|    | 
   Trang chủ    Văn bản PL Lịch làm việc Lịch họp HĐND Thông Báo Sơ đồ trang Hỏi đáp Tin ảnh

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội và đối tượng phải trả lời chất vấn được quy định thế nào trong Hiến pháp
Ngày cập nhât: 29/07/2016

Chế định chất vấn đã được quy định ngay từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 của nước ta. Trải qua 13 khóa Quốc hội, hoạt động chất vấn đã và đang có những bước tiến bộ, hiệu quả; Dân chủ trong hoạt động của Quốc hội ngày càng được phát huy mạnh mẽ và rộng rãi, được cử tri và các tầng lớp nhân dân ghi nhận.

Chất vấn là một hình thức giám sát tối cao của Quốc hội, là quyền của đại biểu Quốc hội. Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn là một trong những nội dung cơ bản tại các kỳ họp của Quốc hội. Đây cũng là một nội dung mang tính chất thời sự, được đông dảo cử tri, các tầng lớp nhân dân, các cơ quan thông tấn, báo chí trong và ngoài nước chú ý theo dõi, bình luận và đánh giá không chỉ đối với người chất vấn, người trả lời chất vấn, người điều hành kỳ họp, mà còn coi đó là một yếu tố rất quan trọng đánh giá vai trò, vị trí của Quốc hội Việt Nam - cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Viẹt Nam. Kể từ khi có Quốc hội (tháng 1 năm 1946) hoạt động chất vấn đã được thực hiện tại nghị trường qua các kỳ họp. Chất vấn là quyền của cá nhân đại biểu nhưng khi thực hiện, chất vấn tại nghị trường lại là hoạt động của Quốc hội. Quốc hội thực hiện quyền lực nhà nước tại mỗi kỳ họp, buộc các đối tượng bị chất vấn phải trả lời trước toàn thể Quốc hội, hoặc trả lời bằng văn bản riêng cho đại biểu có chất vấn.

Đối tượng trả lời chất vấn được mở rộng dần qua mỗi bản hiến pháp. Hiến pháp năm 1946 Điều 55 quy định: “Các Bộ trưởng phải trả lời bằng thư từ hoặc bằng lời nói những điều chất vấn của Nghị viện hoặc của Ban Thường vụ. Kỳ hạn trả lời chậm nhất là 10 ngày sau khi nhận được thư chất vấn”.

Nếu Hiến pháp năm 1946 quy định chỉ có bộ trưởng phải trả lời chất vấn thì đến Hiến pháp năm 1959, bộ trưởng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ đến Phó Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đều phải trả lời chất vấn.Điều 59 quy định: “Các đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đồng Chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ. Cơ quan bị chất vấn phải trả lời trong thời hạn năm ngày; trường hợp phải điều tra thì thời hạn trả lời là một tháng”.

Đến Hiến pháp năm 1980, Điều 95 quy định: “Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đồng Bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Cơ quan hoặc người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội trong kỳ họp của Quốc hội. Trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Hội đồng Nhà nước hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội.

Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước. Những người phụ trách các cơ quan này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét và giải quyết những kiến nghị của đại biểu”. So với Hiến pháp năm 1959 thì quy định trên có thêm 02 đối tượng phải trả lời chất vấn, đó là: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001-QH10, ngày 25-12-2001 của Quốc hội khóa X , tiếp tục mở rộng thêm đối tượng bị chất vấn đó là: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội; Tiếp đến là người đứng đầu các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang cũng phải trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu. Điều 98 quy định:

“Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp; trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản.

Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm. Người phụ trách các cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định”(4).

Kế thừa các quy định tại các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp năm 2013, Điều 80 cơ bản quy định tương tự như Điều 98 Hiến pháp năm 1992 chỉ tăng thêm một đối tượng phải trả lời chất vấn, đó là Tổng Kiểm toán nhà nước. Điều 80 quy định về chất vấn của đại biểu Quốc hội như sau:

“1- Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước.

2- Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong trường hợp cần thiết, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho trả lời bằng văn bản.

3- Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời gian nhất định.”

Như vậy, có thể thấy chế định chất vấn đã được quy định tại 5 bản Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013. Các bản Hiến pháp sau đã kế thừa và hoàn thiện hơn các quy định về hoạt động chất vấn của Quốc hội. Đáng chú ý là Quốc hội khóa XI còn ban hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội. Điều 11 về Chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp quy định:

“Tại kỳ họp Quốc hội, việc chất vấn và trả lời chất vấn được thực hiện như sau:

1. Đại biểu Quốc hội ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu ghi chất vấn và gửi đến Chủ tịch Quốc hội để chuyển đến người bị chất vấn. Đoàn thư ký kỳ họp giúp Chủ tịch Quốc hội tổng hợp các chất vấn của đại biểu Quốc hội để báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến danh sách những người có trách nhiệm trả lời chất vấn tại kỳ họp và báo cáo Quốc hội quyết định;

3. Việc trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể của Quốc hội được tiến hành theo trình tự sau đây:

a) Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ nội dung các vấn đề mà đại biểu Quốc hội đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục;

b) Đại biểu Quốc hội có thể nêu câu hỏi liên quan đến nội dung đã chất vấn để người bị chất vấn trả lời.

Thời gian trả lời chất vấn, thời gian nêu câu hỏi và trả lời thêm được thực hiện theo quy định tại Điều 43 của Nội quy kỳ họp Quốc hội;

4. Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Quốc hội tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó, đưa ra thảo luận tại phiên họp khác của Quốc hội hoặc kiến nghị Quốc hội xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn. Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết;

5. Người đã trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội, tại phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc đã trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội bằng văn bản có trách nhiệm báo cáo với các đại biểu Quốc hội bằng văn bản về việc thực hiện những vấn đề đã hứa khi trả lời chất vấn tại kỳ họp tiếp theo.”

Có thể đánh giá rằng, trải qua quá trình xây dựng và phát triển của Nhà nước ta, qua hoạt động giám sát bằng hình thức chất vấn của Đại biểu Quốc hội, của Quốc hội quyền lực nhà nước được kiểm soát và được quy định ngày càng chặt chẽ hơn; tất cả những người đứng đầu các cơ quan nhà nước đều phải chịu sự giám sát trực tiếp, thường xuyên của Quốc hội nói chung, đều phải trả lời chất vấn trước nghị trường Quốc hội khi đại biểu chất vấn. Nếu các Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 chưa quy định rõ ràng, dứt khoát người bị chất vấn bắt buộc phải trả lời trước Quốc hội thì Hiến pháp các năm 1980, 1992 và đặc biệt Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định dứt khoát: người đứng đầu các cơ quan nhà nước nhất thiết phải trả lời chất vấn trước Quốc hội. Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn cả trong thời gian kỳ họp và thời gian giữa hai kỳ họp trong suốt cả nhiệm kỳ Quốc hội. Chất vấn và trả lời chất vấn có sự đối thoại, trao đổi, tranh luận qua lại giữa đại biểu Quốc hội với người bị chất vấn, thậm chí truy vấn đến cùng để làm sáng tỏ một vấn đề, một sự kiện. Tất cả những vấn đề đó nói lên rằng, dân chủ trong hoạt động của Quốc hội ngày càng được phát huy mạnh mẽ và rộng rãi.

Tuy nhiên, để hoạt động này có được hiệu quả hơn nữa đòi hỏi đại biểu dân cử (trong đó có đại biểu Quốc hội) phải không ngừng nâng cao phẩm chất, trí tuệ và bản lĩnh;. Đại biểu phải chất vấn đúng luật, đúng người, đúng việc, rõ ràng và cụ thể, đúng tâm tư nguyện vọng của cử tri và các tầng lớp nhân dân. Người trả lời chất vấn phải nêu cao ý thức trách nhiệm, trả lời cụ thể vào những vấn đề, nội dung chất vấn, hứa khắc phục sửa chữa phải rõ trách nhiệm và thời hạn… Bên cạnh đó Quốc hội cũng cần hoạt thiện bổ sung trong Luật Giám sát và các đạo luật liên quan về các chế định cụ thể chế tài sau giám sát. Ví dụ: Đại diện các cơ quan Nhà nước khi trả lời chất vấn phải đúng rõ ràng biện pháp khắc phục sửa chữa, nếu không thực hiện đúng thì chính người đứng đầu cơ quan này sẽ chịu chế tài gì?...Có như vậy hoạt động giám sát nói chung và hoạt động chất vấn nói riêng mới thiết thực và hiệu quả góp phần xây dưng, phát triển và bảo vệ đất nước; đáp ứng được các yêu cầu kiến nghị, tâm tư, nguyện vọng của cử tri, tạo dựng được niềm tin sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân./.

 NGUYỄN XUÂN DIÊN

 Gửi cho bạn bè  In bài  Trở về

   NỘI DUNG PHẢN HỒI


Ý KIẾN CỦA BẠN

Tin khác:
Ngày Thương binh liệt sỹ - Đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và “đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc
Chọn người biết lo và biết làm
Hiến pháp năm 2013 quy định trách nhiệm của đại biểu dân cử đối với cử tri và nhân dân
Đại thắng Mùa xuân năm 1975, mở đầu cho cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập thống nhất
Đoàn ĐBQH TP Hà Nội với việc giám sát giải quyết kiến nghị của cử tri – Kinh nghiệm, khó khăn và giải pháp khắc phục
Nâng cao vai trò và bản lĩnh của đại biểu HĐND
Nâng cao hiệu quả chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp - Kinh nghiệm từ HĐND quận Hà Đông
Quan tâm đến những người trẻ tuổi có tài có đức là niềm tin, niềm tự hào cho vận mệnh tương lại của đất nước
Một số kinh nghiệm trong công tác tiếp công dân của đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH TP Hà Nội
Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm tra - Kinh nghiệm từ HĐND thành phố Hà Nội

  Bản đồ hành chính
Trưng cầu dân ý
Đánh giá về trang thông tin điện tử Đoàn ĐBQH & HĐND thành phố Hà Nội


 
Trực tuyến
Thành Viên Online Thành Viên Online:
Khách Khách: 0
Thành Viên Thành Viên: 0
Tổng Số Số người đang truy cập: 0
Tổng Số Tổng lượt truy cập: 3134294