UBND TP trả lời chất vấn về khó khăn vướng mắc trong thực hiện chủ trương hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng với dịch bệnh Covid-19

Thành phố cơ bản đã hoàn thành công tác chi trả cho 4 nhóm đối tượng (người có công với cách mạng; đối tượng bảo trợ xã hội, người thuộc hộ nghèo và cận nghèo). Đã có 385.516/385.683 người được nhận hỗ trợ với kinh phí là 474,2 tỷ đồng, đạt 99.97%; còn 167 đối tượng chưa nhận hỗ trợ vì các đối tượng này hiện đang vắng mặt tại nơi cư trú.

Tại kỳ họp thứ 15 HĐND TP, đại biểu Hoàng Thị Tú Anh, Tổ đại biểu huyện Đan Phương đã nêu câu hỏi chất tới UBND TP đề nghị cho biết kết quả việc triển khai thực hiện Nghị quyết 42/NQ-CP và Quyết định 15/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, những khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và giải pháp khắc phục?

Theo trả lời của UBND TP, ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 và các văn bản khác liên quan, UBND thành phố Hà Nội kịp thời ban hành Quyết định số 1757/QĐ-UBND ngày 29/4/2020, Quyết định 1955/QĐ-UBND ngày 12/5/2020 về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 trên địa bàn thành phổ Hà Nội.

Qua đó, Thành phố cơ bản đã hoàn thành công tác chi trả cho 4 nhóm đối tượng (người có công với cách mạng; đối tượng bảo trợ xã hội, người thuộc hộ nghèo và cận nghèo). Đã có 385.516/385.683 người được nhận hỗ trợ với kinh phí là 474,2 tỷ đồng, đạt 99.97%; còn 167 đối tượng chưa nhận hỗ trợ vì các đối tượng này hiện đang vắng mặt tại nơi cư trú.

Công tác hỗ trợ người lao động, hộ kinh doanh và người sử dụng lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, gồm 05 nhóm đối tượng: Người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không lương; Hộ kinh doanh (có doanh thu khai thuế dưới 100 triệu đồng/năm tạm ngừng kinh doanh từ ngày 01/4/2020); Người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp; Người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm; Người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc đối với người lao động. Kết quả tính đến 17h ngày 02/7/2020, số người được phê duyệt hỗ trợ là 17.079 người với kinh phí 17,37 tỷ đồng; số hộ được phê duyệt hỗ trợ là 992 hộ với kinh phí 992 triệu đồng; số doanh nghiệp có người lao động được hỗ trợ là 11 doanh nghiệp. Tiếp nhận, giải quyết chính sách tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất 163 doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động với tổng số lao động là 13.854 người tương ứng kinh phí trên 49,8 tỷ đồng. Ngoài chính sách chi trả cho các đối tượng theo quy định của Trung ương và Thành phố, một số quận, huyện đã huy động nguồn kinh phí xã hội hóa để hỗ trợ cho cho các giáo viên ngoài công lập trên địa bàn để ổn định cuộc sống. Như huyện Sóc Sơn đã trích nguồn vận động quỹ phòng chống dịch Covid-19 để hỗ trợ 432 giáo viên ngoài công lập, mỗi người 500.000đ/tháng x 3 tháng; tổng kinh phí là 648 triệu đồng.

UBND TP báo cáo, việc thẩm định các điều kiện để hỗ trợ cho các nhóm đối tượng gặp rất nhiều khó khăn do không có cơ sở để kiểm tra, xác minh mà chủ yếu dựa vào thông tin do người lao động, người sử dụng lao động cung cấp. Từ đó dễ phát sinh việc trục lợi chính sách. Ví dụ: Một trong các điều kiện để người lao động không có giao kết HĐLĐ bị mất việc làm được hưởng hỗ trợ là có nơi cư trú hợp pháp (có hộ khẩu thường trú hoặc giấy đăng ký tạm trú) tuy nhiên có những người lao động đi làm xa nhà, nhiều tháng mới về nơi thường trú một lần, không có đăng ký tạm trú, dẫn đến việc xét duyệt hồ sơ của Hội đồng xét duyệt cấp xã gặp nhiều khó khăn vì không biết người lao động làm gì, ở đâu? Công tác rà soát, xác định đối tượng trùng hưởng gặp nhiều khó khăn do không có hệ thống theo dõi thống nhất, chủ yếu là rà soát bằng phương pháp thủ công nên mất thời gian và độ chính xác không cao, lao động ngoại tỉnh làm việc tại Hà Nội tạm hoãn HĐLĐ, nghỉ việc không hưởng lương không có dữ liệu đối chiếu trùng hưởng.

Bên cạnh đó, tiêu chí để người sử dụng lao động tiếp cận nguồn vay vốn để trả lương ngừng việc đối với người lao động theo quy định tại Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg còn khó khăn dẫn đến tình trạng doanh nghiệp có nhu cầu nhưng không đủ điêu kiện để được hỗ trợ. Thời hạn giải quyết hồ sơ của từng cấp theo quy định ngắn trong khi số lượng hồ sơ phải thẩm định, giải quyết lớn.

Nguyên nhân chủ yếu là chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ, Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ là chính sách chưa có tiền lệ được triển khai thực hiện trong thời gian ngắn. Quá trình triển khai thực hiện tại cơ sở phát sinh nhiều nội dung chưa được quy định cụ thể.

Giải pháp khắc phục: Kịp thời tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng những nội dung quy định tại Nghị quyết số 42, Quyết định số 15 và các văn bản hướng dân thực hiện thông qua các hội nghị, hệ thông truyên thanh cơ sở để người dân hiểu rõ chế độ, chính sách, đối tượng, điều kiện, mức hỗ trợ và trình tự, thủ tục đề nghị hỗ trợ. Lãnh đạo Thành phố định kỳ tổ chức họp, giao ban trực tuyến với các quận, huyện, thị xã nhằm đôn đốc, nắm bắt tình hình, kịp thời chỉ đạo tổng hợp các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện để hướng dẫn hoặc báo cáo xin ý kiến của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội theo thẩm quyền (trong đó có nội dung kiến nghị xem xét sửa đổi, bổ sung điều kiện hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc).

Chỉ đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ động tổ chức Hội nghị thống nhất biện pháp thực hiện công tác hỗ trợ người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng của Covid-19 với 30 quận, huyện, thị xã. Thường xuyên đôn đốc UBND các quận, huyện, thị xã chỉ đạo, khẩn trương triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các nhiệm vụ được giao và định kỳ hàng tuần (hoặc theo yêu cầu đột xuất) báo cáo về Sở LĐTB&XH để tổng hợp, báo cáo UBND Thành phố và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

Chỉ đạo thành, lập các đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra công tác triển khai, chi trả chính sách hỗ trợ cho người dân tại các quận, huyện, thị xã và các xã, phường, thị trấn nhằm kịp thời hướng dẫn, chấn chỉnh sai phạm. (Hiện đã kiểm tra tại 10 quận, huyện: Ba Vì, Hoài Đức, Phú Xuyên, Sóc Sơn, Đống Đa, Long Biên, Ứng Hòa, Phúc Thọ, Hoàng Mai, Đông Anh)

Chỉ đạo Sở Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp Bưu điện Thành phố thiết lập Tổng đài đường dây nóng tự động gồm 05 nhánh trả lời. Đồng thời thành lập Tổ công tác tiếp nhận, giải đáp kiến nghị, phản ánh của người dân trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ. Đây là kênh thông tin hiệu quả, góp phần để chính sách của nhà nước được triển khai khẩn trương, đúng quy định...

Toàn văn trả lời mời xem tại file đính kèm

Lượt xem: 786

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Phó Chủ tịch HĐND Thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai tiếp công dân định kỳ

Hoạt động tiếp công dân và giải quyết đơn thư KNTC 1 ngày trước

Cụ thể, công dân Lưu Văn Cộng, ở phố Vương Thừa Vũ, phường Khương Trung, quận Thanh Xuân (trước đây) đề nghị ban hành quyết định giải quyết khiếu nại (lần 2) liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) tại xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì (trước đây); và đề nghị cấp GCNQSDĐ cho gia đình ông tại xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì - nay là xã Nam Phù, thành phố Hà Nội.Diễn biến vụ việc như sau: ông Lưu Văn Cộng và bà Lưu Thị Tạc là anh em cùng cha khác mẹ. Ông Lưu Văn Cộng đi bộ đội không có nhà. Ngày 10/11/1993, UBND huyện Thanh Trì đã cấp GCNQSDĐ cho bà Lưu Thị Tạc với diện tích đất 459m2 đất thổ cư tại xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.Ngày 21/3/1994, ông Lưu Văn Cộng có đơn xin tách thửa, trong đó ông Lưu Văn Cộng sử dụng 306m2, bà Lưu Thị Tạc sử dụng 153m2 và đề nghị xem xét lại việc cấp GCNQSDĐ cho bà Lưu Thị Tạc.Năm 2002, khi đang có tranh chấp, bà Lưu Thị Tạc lại chuyển nhượng 102m2/153m2 cho hộ gia đình ông Trần Quang Kỳ. UBND huyện Thanh Trì cấp GCNQSDĐ cho cho hộ gia đình ông Trần Quang Kỳ theo Quyết định số 1411/QĐ-UBND ngày 20/9/2005.Từ năm 2005 ông Lưu Văn Cộng liên tục có đơn UBND xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì đề nghị cấp GCNQSDĐ. Qua quá trình giải quyết, ngày 6/5/2017, UBND huyện Thanh Trì có Quyết định số 1115/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần 1) liên quan đến việc cấp GCNQSDĐ tại xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, theo đó nội dung công dân khiếu nại là sai.Quang cảnh buổi tiếp công dân sáng 30/1Ông Lưu Văn Cộng tiếp tục có nhiều đơn gửi UBND Thành phố đề nghị giải quyết khiếu nại (lần 2). UBND Thành phố đã có nhiều văn bản giao Sở Tài nguyên và Môi trường (trước đây) và Thanh tra Thành phố kiểm tra, rà soát nội dung khiếu nại của công dân để ban hành quyết định giải quyết khiếu nại (lần 2).Ngày 16/9/2019 Thanh tra TP có Báo cáo số 4343/BC-TTTP(P4) kết quả kiểm tra, rà soát đơn của công dân, trong đó có nội dung: UBND huyện Thanh Trì chỉ mới giải quyết đơn khiếu nại việc cấp GCNQSDĐ cho diện tích 306m² mà chưa xem xét giải quyết việc ông Lưu Văn Cộng khiếu nại việc cấp GCNQSDĐ cho bà Tạc năm 1993, là chưa làm hết trách nhiệm trong việc giải quyết đơn của công dân.Sở Tài nguyên và Môi trường đã có kiến nghị UBND Thành phố ban hành quyết định giải quyết khiếu nại (lần 2) của ông Lưu Văn Cộng, trong đó có nội dung: “Chấp thuận đơn của ông Lưu Văn Cộng khiếu nại Quyết định số 1115/QĐ-UBND ngày 6/5/2017 của UBND huyện Thanh Trì; hủy Quyết định số 1115/QĐ-UBND ngày 6/5/2017 của UBND huyện Thanh Trì về việc giải quyết khiếu nại của ông Lưu Văn Cộng”.Tiếp đó, ngày 31/5/2023, Văn phòng UBND Thành phố đã có Thông báo số 235/TB-VP kết luận, chỉ đạo của lãnh đạo UBND TP tại cuộc họp xem xét báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) về việc kiểm tra, rà soát, hoàn thiện dự thảo Quyết định giải quyết khiếu nại (lần 2) đối với đơn khiếu nại của ông Lưu Văn Cộng, trong đó giao UBND huyện Thanh Trì kiểm tra việc cấp Giấy CNQSDĐ cho bà Lưu Thị Tạc năm 1993 và xử lý theo quy định; kiểm tra lại việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cấp GCNQSDĐ đất cho ông hộ gia đình ông Trần Quang Kỳ năm 2005... Tuy nhiên, qua quá trình giải quyết, đến nay vụ việc của công dân Lưu Văn Cộng chưa được xử lý dứt điểm.Sau khi nghe đại diện lãnh đạo các cơ quan chức năng liên quan báo cáo, trả lời về quá trình giải quyết vụ việc, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố Phạm Thị Thanh Mai đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Thanh Tra Thành phố, UBND xã Nam Phù khẩn trương ban hành quyết định giải quyết khiếu nại (lần 2) của công dân Lưu Văn Cộng, trong đó cần kiểm tra, xác định rõ việc cấp Giấy CNQSDĐ cho bà Lưu Thị Tạc năm 1993; kiểm tra lại việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cấp GCNQSDĐ cho ông hộ gia đình ông Trần Quang Kỳ năm 2005 và xử lý theo quy định. Các đơn vị cần bám sát vào quy định của Luật Khiếu nại để giải quyết vụ việc, chậm nhất ngày 15/3/2026 phải có báo cáo để trả lời công dân.Phó Chủ tịch HĐND thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai phát biểu tại buổi tiếp công dânCũng trong sáng 30/1, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố Phạm Thị Thanh Mai tiếp công dân đối với vụ việc của bà Phan Thị Bùi, ở ngõ Nam Tiến, phố Phù Sa, phường Sơn Tây. Công dân đề nghị giải quyết việc tranh chấp ngõ đi chung giữa hộ gia đình bà Phan Thị Bùi và hộ gia đình ông Phan Văn Thái (nhận chuyển lại từ bà Lương Thị Nhật) tại ngõ Nam Tiến, phố Phù Sa, phường Sơn Tây, TP Hà Nội và không cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông Phan Văn Thái vì đất đang xảy ra tranh chấp.Quá trình giải quyết đơn như sau: Ngày 27/9/1990 UBND xã Viên Sơn (trước đây) đã có văn bản giải quyết tranh chấp giữa bà Lương Thị Nhật (chủ sử dụng trước đây của thửa 320, sau đó chuyển nhượng cho ông Phan Văn Thái) và bà Phan Thị Bùi, kết luận đây là lối đi chung của 2 gia đình.UBND phường Viên Sơn đã tổ chức hòa giải tranh chấp giữa gia đình bà Phan Thị Bùi và gia đình ông Phan Văn Thái liên quan lối đi chung; kết quả hòa giải thành thống nhất lối đi chung thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Phan Văn Thái. Tuy nhiên, sau đó bà Phan Thị Bùi vẫn không đồng ý. UBND phường Viên Sơn tiếp tục tổ chức hội nghị hòa giải tranh chấp đất đai, kết quả hòa giải không thành.Ngày 16/11/2025, bà Phan Thị Bùi tiếp tục có đơn gửi HĐND Thành phố và HĐND phường Sơn Tây đề nghị giải quyết việc tranh chấp ngõ đi chung giữa 2 hộ gia đình bà Phan Thị Bùi, hộ gia đình ông Phan Văn Thái và không cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông Phan Văn Thái vì đất đang xảy ra tranh chấp.Ngày 28/1/2026, Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị của phường Sơn Tây phối hợp với tổ dân phố kiểm tra thực địa tại thửa đất. Tại thời điểm kiểm tra, lối đi hiện hữu giữa hai hộ có chiều dài khoảng 8,8m, chiều rộng khoảng 1,5m; cả hai gia đình đều mở cổng và sử dụng lối đi này để đi lại.Kết luận nội dung này, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố Phạm Thị Thanh Mai đề nghị UBND phường Sơn Tây có biện pháp xử lý, giải quyết dứt điểm đơn kiến nghị của bà Phan Thị Bùi, không để xảy ra khiếu kiện vượt cấp; đồng thời huy động các tổ chức chính trị - xã hội của địa phương cùng vào cuộc để tiếp tục vận động, tuyên truyền, hòa giải với các hộ gia đình, giữ gìn ổn định an ninh, trật tự trên địa bàn; báo cáo kết quả về Thường trực HĐND Thành phố trong tháng 2/2026.