Ban Đô thị: Kết quả giám sát xử lý nước thải tại các CCN trên địa bàn Thành phố

Thành phố đã có Đề án đầu tư xây dựng trạm và hệ thống thu gom xử lý NTTT cho 19 cụm này trong giai đoạn 2016-2020 với quan điểm huy động nguồn lực xã hội hóa, giao doanh nghiệp thực hiện đầu tư, quản lý vận hành trên cơ sở tính toán hợp lý quy mô, công xuất, công nghệ hiện đại, phương án giá lấy thu bù chi hợp lý, đồng thời chuyển giao nhiệm vụ quản lý thực hiện Đề án từ sở Công thương về sở Xây dựng, tuy nhiên việc triển khai thực hiện Đề án chậm, gặp nhiều khó khăn.

 

Thực hiện Kế hoạch giám sát ban hành kèm theo Quyết định số 31/QĐ-HĐND ngày 19/7/2017  Thành phố, từ ngày 18/8/2017 đến ngày 7/9/2017 Đoàn giám sát của Ban Đô thị HĐND Thành phố tiến hành giám sát, khảo sát việc thực hiện quy định pháp luật trong hoạt động thu gom và xử lý nước thải tại các cụm công nghiệp trên địa bàn các huyện: Đan Phượng, Đông Anh, Thanh Trì, Thường Tín, Chương Mỹ và thị xã Sơn Tây. Ngày 8/9/2017, Đoàn đã làm việc với các sở: Tài nguyên Môi trường, Công Thương, Xây Dựng, Kế hoạch Đầu tư, Quy hoạch Kiến trúc, Tài Chính để làm rõ kết quả đạt được cũng như các tồn tại hạn chế, nguyên nhân, trách nhiệm từ đó kiến nghị các cấp, các ngành có giải pháp khắc phục kịp thời.

Qua báo cáo của Sở Xây Dựng là cơ quan thường trực giúp UBND Thành phố về công tác quản lý đối với các trạm xử lý nước thải tập trung tại các cụm công nghiệp và đại diện các sở, ngành Thành phố, thay mặt Đoàn giám sát đồng chí Nguyễn Nguyên Quân - Trưởng Ban Đô thị, Trưởng Đoàn giám sát đánh giá:

1. Về kết quả đã đạt được:

- Về thể chế, chính sách và công tác lãnh đạo, chỉ đạo: Thành phố đã quan tâm, tích cực triển khai quy định của pháp luật về hoạt động thu gom, xử lý nước thải tập trung tại các cụm công nghiệp (CCN). Với chức năng, nhiệm vụ được giao, các sở: Công Thương, Tài nguyên Môi trường, Xây Dựng và các sở, ngành liên quan đã tích cực tham mưu cho UBND Thành phố ban hành kịp thời các quy định, văn bản hướng dẫn các cấp, các ngành, quận, huyện, các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp thực hiện (Thành ủy có 02 Chương trình, HĐND Thành phố ban hành 03 Nghị quyết, UBND Thành phố ban hành và triển khai thực hiện 04 kế hoạch, các sở ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra thực hiện). Cho đến thời điểm hiện nay có thể khẳng định: các quy định của Thành phố về vấn đề này là khá đầy đủ, rõ ràng cả về cơ chế, chính sách, về nhiệm vụ của các cấp, các ngành, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp. Hiện nay các sở, ngành Thành phố đang tiếp tục rà soát để tham mưu cho UBND Thành phố tiếp tục điều chỉnh, bổ sung các quy định cho đảm bảo phù hợp với các quy định mới của pháp luật liên quan đến lĩnh vực đầu tư xây dựng trạm, hệ thống thu gom xử lý nước thải tập trung (NTTT), phân cấp quản lý thu phí bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tại các cụm công nghiệp.

- Về đầu tư, xây dựng: Tính đến thời điểm hiện tại, Thành phố đã đầu tư xây dựng hoàn thành đồng bộ 21 trạm và hệ thống thu gom, xử lý NTTT tại các CCN trên địa bàn. Trong đó 01 cụm đã hoàn thành phần xây dựng hạ tầng kỹ thuật trạm, chưa lắp đặt công nghệ máy móc, 02 trạm đã được Thành phố phê duyệt dự án đầu tư ( Phú Thịnh – Sơn Tây, Ngọc Sơn – Chương Mỹ) các địa phương đang triển khai xây dựng. Đến hết năm 2017 tỷ lệ CCN đã hoạt động ổn định có trạm và hệ thống thu gom xử lý NTTT đạt 55,8 % (chỉ tiêu này là một trong các chỉ tiêu KTXH được HĐND Thành phố thông qua). Kết quả này tuy chưa đáp ứng được yêu cầu quy định của pháp luật (là các CCN đều phải có trạm và hệ thống thu gom xử lý NTTT) song trong điều kiện nhu cầu vốn để đầu tư xây dựng trạm, hệ thống thu gom xử lý NTTT cho các CCN rất lớn, ngân sách Thành phố còn khó khăn, thì đạt được kết quả trên là sự nỗ lực quyết tâm lớn của Thành phố, các quận, huyện, doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng CCN trong những năm vừa qua. Trong đó có vai trò tham mưu đắc lực của các sở: Công Thương, Xây Dựng, Tài nguyên Môi trường, Kế hoạch Đầu tư, Tài Chính.

- Việc triển khai quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trong CCN đạt kết quả nhất định: Sở Tài nguyên Môi trường đã tham mưu Thành phố ban hành quy định phân cấp về trách nhiệm, nhiệm vụ thu phí bảo vệ môi trường (Từ năm 2015-2017 Sở Tài nguyên Môi trường thực hiện thu được 124.870.208 đồng, số thu này thuộc trách nhiệm thu của Sở Tài nguyên Môi trường. Đối với quận, huyện tuy chưa có con số cụ thể song qua giám sát trực tiếp tại một số huyện cho thấy các huyện Đoàn đến giám sát đều đã triển khai việc thu phí này, tuy nhiên nội dung này cần được đánh giá kỹ hơn để có những giải pháp quyết liệt hơn trong thời gian tới).

- Về công tác quản lý, vận hành trạm xử lý NTTT tại CCN: về cơ bản các đơn vị chấp hành khá đầy đủ theo quy định. Tại một số CCN nơi Đoàn đến giám sát trực tiếp cho thấy các đơn vị đều tuân thủ quy trình xử lý, vận hành, thực hiện đầy đủ việc theo dõi nhật ký vận hành, quan trắc định kỳ cũng như việc kiểm định tiêu chuẩn nước thải.

- Công tác thanh tra, kiểm tra: Các sở Công Thương, Tài nguyên Môi trường, Xây Dựng  đã thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước, tổ chức nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra hoạt động của các CCN nói chung và hoạt động thu gom, xử lý NTTT nói riêng. Thành phố cũng như quận, huyện đã xem xét, xử lý đối với một số trường hợp có hành vi vi phạm về xả thải cũng như bảo vệ môi trường, góp phần quan trọng ngăn ngừa vi phạm, không để xảy ra điểm nóng vi phạm về xả thải không qua xử lý ra môi trường.

2. Về tồn tại, hạn chế:

-  Trên địa bàn Thành phố còn nhiều CCN đã hoạt động ổn định nhưng chưa được đầu tư xây dựng trạm và hệ thống thu gom xử lý NTTT (19 cụm, tỷ lệ chiếm 44,2%). Để giải quyết vấn đề này thì Thành phố đã có Đề án đầu tư xây dựng trạm và hệ thống thu gom xử lý NTTT cho 19 cụm này trong giai đoạn 2016-2020 với quan điểm huy động nguồn lực xã hội hóa, giao doanh nghiệp thực hiện đầu tư, quản lý vận hành trên cơ sở tính toán hợp lý quy mô, công xuất, công nghệ hiện đại, phương án giá lấy thu bù chi hợp lý, đồng thời chuyển giao nhiệm vụ quản lý thực hiện Đề án từ sở Công thương về sở Xây dựng, tuy nhiên việc triển khai thực hiện Đề án chậm, gặp nhiều khó khăn.

- Trong 21 cụm công nghiệp đã được đầu tư đồng bộ cả trạm và hệ thống thu gom xử lý NTTT, có: 02 trạm không hoạt động (Duyên Thái, Tân Triều) máy móc hư hỏng, xuống cấp, cho thấy việc đầu tư  nhưng không phát huy được hiệu quả, gây lãng phí rất lớn (Ngoài trách nhiệm của doanh nghiệp, chủ đầu tư, còn có trách nhiệm của các cấp chính quyền, cơ quan chức năng của Thành phố, và của huyện); 06 trạm chưa đi vào hoạt động chính thức do chưa hoàn thiện các thủ tục pháp lý (nghiệm thu bàn giao công trình, giấy phép xả thải, đấu nối thu gom nước thải...)

- Ngoài 43 cụm công nghiệp hoạt động ổn định, trên địa bàn Thành phố hiện còn có tới 68CCN (thực chất là các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp làng nghề) có quy mô nhỏ, trong đó nhiều cụm nằm xen kẽ hoặc gần khu dân cư đang hoạt động sản xuất nhưng không có hệ thống xử lý nước thải tập trung, tình trạng nước thải từ các cơ sở sản xuất không được xử lý sơ bộ xả thải trực tiếp ra môi trường xung quanh diễn ra phổ biến, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường rất lớn. Kiểm tra thực tế tại một số CCN đã hoạt động ổn định, cũng như quy mô nhỏ cho thấy nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chấp hành không tốt, thậm trí có đơn vị chưa chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường nói chung và xử lý nước thải công nghiệp nói riêng (Không đấu nối, không có hệ thống thu gom, xử lý sơ bộ, tình trạng khói, bụi phát tán tràn lan gây ô nhiễm không khí …vv). 15 trạm công suất vận hành thực tế thấp hơn công suất thiết kế, đây là một hạn chế trong việc tính toán xác định lưu lượng xả thải với quy mô, công suất đầu tư hệ thống, chi phí đầu tư lớn, giá thành xử lý cao hơn.

- Nhiều CCN đã hoạt động ổn định nhưng không phù hợp quy hoạch. Hầu hết các CCN chưa lắp đặt được hệ thống quan trắc môi trường tự động, chủ yếu thực hiện quan trắc định kỳ.

- Mặc dù các quy định của pháp luật về thu phí bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tại CCN đã rất cụ thể rõ ràng, Thành phố đã triển khai thực hiện và quy định phân cấp nhiệm vụ thu giữa Thành phố và huyện, quận song việc thực hiện các quy định này còn nhiều hạn chế (số phí thu được cả ở cấp Thành phố và cấp huyện rất thấp, những đơn vị Đoàn giám sát trực tiếp khi trao đổi vấn đề này rất lúng túng, chưa thực sự quan tâm đúng mức đến nhiệm vụ này).

3. Trên cơ sở đánh giá về các tồn tại, hạn chế nêu trên, Đoàn giám sát cũng chỉ rõ nguyên nhân của hạn chế:

* Nguyên nhân khách quan:

- Do lịch sử để lại, nhiều CCN được hình thành trước đây từ các điểm tiểu thủ công nghiệp làng nghề trước khi có Luật Bảo vệ môi trường.

- Công tác giải phóng mặt bằng ở một số cụm, địa phương gặp nhiều khó khăn, nguồn lực hạn chế.

 - Ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của một số tổ chức, cá nhân, chủ đầu tư chưa cao, một số tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp cố tình vi phạm.

* Nguyên nhân chủ quan:

- Cấp ủy, chính quyền một số địa phương chưa quan tâm đúng mức công tác này, chỉ đạo, điều hành thiếu sát sao, quyết liệt, trong một số trường hợp còn buông lỏng (đây là nguyên nhân chủ yếu)

- Công tác điều tra, khảo sát, tính toán lưu lượng xả thải trong lập thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải chưa  tốt.

- Công tác thanh tra, kiểm tra của  quận, huyện chưa tốt, chưa thường xuyên.

- Sự phối hợp giữa các sở và chính quyền quận, huyện có việc chưa hiệu quả.

Thay mặt Đoàn giám sát, đồng chí Nguyễn Nguyên Quân – Trưởng Ban Đô thị đề nghị các sở ngành Thành phố quan tâm một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

(1). Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, các sở ngành Thành phố tiếp tục tham mưu UBND Thành phố triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp được xác định trong chương trình 03 và 07 của Thành ủy, Kế hoạch 221 ngày 21/12/2015, kế hoạch 124 ngày 01/6/2017 của UBND Thành phố về khắc phục những tồn tại hạn chế và các giải pháp cấp bách BVMT của Thành phố, trong đó chú trọng các giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường tại CCN, làng nghề.

(2)  Sở Công thương sớm hoàn thiện trình UBND Thành phố  phê duyệt quy hoạch phát triển CCN trên địa bàn Thành phố đến năm 2020 xét đến năm 2030 làm cơ sở các địa phương tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng trạm và hệ thống xử lý NNTT.

(3) Trên cơ sở kết quả rà soát, đánh giá hiện trạng của 19 cụm công nghiệp đang hoạt động ổn định thuộc Đề án đầu tư xây dựng trạm và hệ thống xử lý NTTT giai đoạn 2016-2020, Sở Xây dựng sớm tham mưu UBND Thành phố kế hoạch, phương án triển khai thực hiện Đề án theo chỉ đạo của UBND Thành phố (trong 9/2017).  Đôn đốc các chủ tư 03 dự án đã được phê duyệt đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng (và nếu có những vấn đề khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền cần tổng hợp báo cáo UBND TP để xem xét giải quyết kịp thời). Tham mưu đề xuất UBND Thành phố biện pháp xử lý đối với 02 trạm đã đầu tư nhưng không vận hành đã xuống cấp. Chủ trì phối hợp các sở Tài chính, Kế hoạch Đầu tư tham mưu UBND Thành phố Đề án giá dịch vụ thoát nước trong đó có nước thải tại CCN; cơ chế quản lý vận hành các trạm xử lý nước thải sau đầu tư.

(4)Sở Tài nguyên Môi trường sớm hoàn thiện trình UBND Thành phố ban hành quyết định phân cấp thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp thay thế quy định cũ làm căn cứ thực hiện. Rà soát, kiểm tra, đôn đốc các chủ đầu tư trạm xử lý NTTT hoàn thiện các thủ tục pháp lý trình UBND Thành phố cấp giấy phép xả thải đối với các cụm đảm bảo đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn xả thải. Rà soát toàn bộ các cơ sở sản xuất thuộc đối tượng thu phí bảo vệ môi trường thuộc trách nhiệm thu của sở  để thực hiện thu đúng, thu đủ. Tham mưu UBND Thành phố có chỉ đạo đối với các chủ đầu tư CCN thực hiện lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động.

(5) UBND các quận, huyện, thị xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường. Thường xuyên kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động CCN, phát hiện kịp thời, có biện pháp ngăn chặn xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về xả thải. Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thành phố về thu phí bảo vệ môi trường.

(6) Đối với các cụm công nghiệp có quy mô nhỏ chưa có trạm xử lý, để hạn chế ô nhiễm môi trường biện pháp quan trọng trước mắt vẫn là yêu cầu chủ cơ sở sản xuất có xả thải nguy cơ gây ô nhiễm cao phải có hệ thống thu gom, xử lý sơ bộ trước khi xả ra môi trường; chỉ tiếp nhận doanh nghiệp có công nghệ tiên tiến, hiện đại ít gây ô nhiễm môi trường (đây là quy định của pháp luật), đồng thời tăng cường làm tốt công tác vệ sinh môi trường thu gom, xử lý rác thải công nghiệp. Trách nhiệm trước hết thuộc UBND các quận, huyện, tuy nhiên với chức năng quản lý nhà nước đề nghị các sở, ngành tham mưu UBND Thành phố có chỉ đạo các quận, huyện triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt các quy định của pháp luật.

BẰNG GIANG

Lượt xem: 564

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố Trần Thế Cương làm việc với 10 phường về công tác chuẩn bị bầu cử

Tin hoạt động - HĐND 1 ngày trước

Cùng dự có đồng chí Duy Hoàng Dương, Thành ủy viên, Trưởng Ban Pháp chế HĐND Thành phố; đại diện lãnh đạo các Ban HĐND Thành phố; đại diện Sở ngành và lãnh đạo 10 phường: Ba Đình, Ngọc Hà, Giảng Võ, Hoàng Mai, Lĩnh Nam, Vĩnh Hưng, Tương Mai, Định Công, Hoàng Liệt, Yên Sở.  Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố Trần Thế Cương chủ trì buổi giám sátTheo đánh giá của đoàn giám sát, thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và Thành phố về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, 10 phường đã và đang triển khai công tác chuẩn bị bầu cử nghiêm túc, bài bản, bảo đảm đúng tiến độ và quy định pháp luật.Các nội dung công việc được triển khai đúng quy trình, tiến độ như: việc thành lập Ban Chỉ đạo, Ủy ban bầu cử, các Tiểu ban phục vụ bầu cử. Các phường đã hoàn thành hội nghị hiệp thương lần thứ nhất, thống nhất cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND bảo đảm tính đại diện, tính kế thừa và đổi mới.Điểm đáng chú ý trong công tác chuẩn bị bầu cử tại các phường là việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Các đơn vị khai thác hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ứng dụng VNeID để lập, rà soát danh sách cử tri, góp phần hạn chế trùng lặp, sai sót. Các địa phương cũng đã hoàn thành việc xác định số đơn vị bầu cử, phân chia khu vực bỏ phiếu phù hợp với đặc điểm địa bàn, dân cư.Đại diện các phường báo cáo tại buổi làm việcBên cạnh kết quả đạt được, công tác chuẩn bị bầu cử tại các phường cũng gặp một số khó khăn trong rà soát, lập danh sách cử tri khi dân cư đông, biến động lớn, đặc biệt tại các địa bàn có nhiều nhà cho thuê, chung cư cao tầng, khu tái định cư hoặc đang giải phóng mặt bằng; phần mềm quản lý danh sách cử tri hiện chủ yếu trích xuất theo khu vực bỏ phiếu, chưa theo tổ dân phố; tốc độ xử lý dữ liệu còn chậm; đội ngũ cán bộ tham gia công tác bầu cử phần lớn là kiêm nhiệm, nhiều người lần đầu đảm nhận nhiệm vụ, trong khi khối lượng công việc lớn và yêu cầu tiến độ cao...Từ thực tế đó, các phường kiến nghị Công an Thành phố sớm tháo gỡ vướng mắc kỹ thuật, cho phép phần mềm trích xuất danh sách cử tri theo tổ dân phố; đồng thời nghiên cứu bổ sung tính năng thông báo thông tin bầu cử cho cử tri qua ứng dụng VNeID. Các đơn vị cũng đề xuất Thành phố sớm cấp phát đầy đủ kinh phí phục vụ bầu cử, trang bị thêm thiết bị công nghệ thông tin chuyên dụng và tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu về công tác bầu cử. Thành viên Đoàn giám sát phát biểu tại buổi làm việcTại buổi làm việc, thành viên đoàn giám sát đã trao đổi, làm rõ những nội dung liên quan đến công tác chuẩn bị bầu cử tại cơ sở. Đoàn đề nghị các phường tiếp tục rà soát chặt chẽ danh sách cử tri, bảo đảm không bỏ sót, không trùng lặp; chủ động cập nhật, phản ánh kịp thời những vướng mắc để các cơ quan chức năng xem xét, tháo gỡ...Phát biểu kết luận buổi giám sát, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố Trần Thế Cương cho biết, đoàn giám sát ghi nhận Ủy ban bầu cử các phường đã thực hiện đầy đủ, thực hiện tốt các quy định, hướng dẫn của Trung ương và Thành phố về công tác bầu cử. Với những khó khăn, vướng mắc và đề xuất của các đơn vị về việc rà soát dân cư, lập danh sách cử tri, sử dụng phần mềm quản lý thông tin bầu cử, cấp kinh phí, năng lực của cán bộ tham gia công tác bầu cử... Trưởng đoàn giám sát đề nghị các sở, ngành chức năng quan tâm tháo gỡ; quan tâm phối hợp rà soát danh sách cử tri trên VNeID kết hợp trực tiếp tại địa bàn dân cư. Đồng thời, cùng với việc đào tạo tập huấn, hướng dẫn cho cán bộ cơ sở, cần quan tâm tập huấn người ở tổ dân phố thực hiện nhiệm vụ bầu cử.Nhấn mạnh từ nay đến ngày bầu cử thời gian còn rất gấp, diễn ra ngay sau Tết nguyên đán với khối lượng công việc rất nhiều, có tính chất quyết định đến thành công của cuộc bầu cử,  Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố Trần Thế Cương đề nghị Ủy ban bầu cử các phường tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kết hợp với tuyên truyền vui Xuân đón Tết. Chú ý tuyên truyền theo mẫu hướng dẫn để có sự thống nhất, đồng bộ.Đồng thời, các phường tổ chức tốt các hội nghị tiếp xúc cử tri, vận động bầu cử; nghiêm túc thực hiện công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, không để phát sinh nhất là những vụ việc đông người, phức tạp, nhạy cảm; bảo đảm an ninh, trật tự; chuẩn bị kinh phí bảo cho công tác bầu cử... Nêu một số mốc thời gian cụ thể hoàn thành các công việc như: tiếp nhận hồ sơ ứng cử đại biểu HĐND phường; hoàn thành việc thành lập các Tổ bầu cử tại các khu vực bỏ phiếu bầu cử; hội nghị hiệp thương lần thứ hai và niêm yết danh sách cử tri; lấy ý kiến cử tri nơi cư trú của đại biểu HĐND các cấp; hội nghị hiệp thương lần thứ 3..., Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố đề nghị các đơn vị thực hiện đúng tiến độ các mốc thời gian; thực hiện đúng quy trình, quy định, đặc biệt cần nghiêm túc chế độ gửi báo cáo đến Ủy ban bầu cử Thành phố để kịp thời chỉ đạo giải quyết đối với những vấn đề  thẩm quyền./.