Ban Đô thị: Kết quả giám sát việc triển khai thực hiện các dự án nước sạch

Qua giám sát cho thấy: Đối với các dự án phát triển nguồn cấp nước tập trung Thành phố hiện đang triển khai đầu tư xây dựng 11 dự án, đã có 01 dự án hoàn thành đưa vào vận hành khai thác từ đầu năm 2018 (dự án nâng công suất nhà máy Bắc Thăng Long – Vân Trì lên 150.000m3/ngđ); 03 dự án theo kế hoạch đến 31/12/2018 hoàn thành và đưa vào vận hành khai thác thì 01 dự án nguy cơ chậm tiến độ ...

Thực hiện Kế hoạch giám sát số 15/KH-HĐND ngày 30/7/2018, Ban Đô thị HĐND Thành phố đã tổ chức giám sát tình hình, kết quả triển khai thực hiện các dự án nước sạch trên địa bàn Thành phố.

Qua giám sát cho thấy: Đối với các dự án phát triển nguồn cấp nước tập trung Thành phố hiện đang triển khai đầu tư xây dựng 11 dự án, đã có 01 dự án hoàn thành đưa vào vận hành khai thác từ đầu năm 2018 (dự án nâng công suất nhà máy Bắc Thăng Long – Vân Trì lên 150.000m3/ngđ); 03 dự án theo kế hoạch đến 31/12/2018 hoàn thành và đưa vào vận hành khai thác thì 01 dự án nguy cơ chậm tiến độ; 07 dự án được phê duyệt tiến độ hoàn thành trong năm 2019-2020, trong đó đã có 05 dự án đang triển khai thi công (03 dự án đang thực hiện chuẩn bị đầu tư, 02 dự án bị chậm tiến độ so với kế hoạch, trong đó có 01 dự án tiến độ phê duyệt hoàn thành từ 2009-2010). Đối với các dự án phát triển mạng lưới cấp nước Thành phố đã phê duyệt chủ trương đầu tư 23 dự án để nhà đầu tư nghiên cứu, triển khai thi công tại 382/416 xã, tính đến 30/6/2018 đã có 14 dự án hoàn thành và cơ bản hoàn thành, đáp ứng khả năng đấu nối cung cấp nước cho khoảng 52% người dân ở khu vực nông thôn; 09 dự án đang thi công, dự kiến cuối năm 2018 đáp ứng khả năng đấu nối cung cấp nước cho khoảng 55% người dân ở khu vực nông thôn, có 12/23 dự án đang triển khai đầu tư bị chậm hoặc có nguy cơ chậm tiến độ. Đối với các dự án trạm cấp nước sạch nông thôn, trong giai đoạn từ năm 1990 đến hết năm 2017, Thành phố đã đầu tư xây dựng 119 công trình trạm cấp nước sạch nông thôn bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, tính đến 30/6/2018 có 87 trạm cấp nước đang hoạt động với tổng công suất khoảng 70.000m3/ngđ, cấp nước ổn định cho khoảng 100.000 hộ dân chiếm khoảng 10% số dân sử dụng nước sạch trên toàn Thành phố, 32 trạm cấp nước không hoạt động do công trình đầu tư dở dang nhưng không đủ điều kiện đưa vào hoạt động hoặc đã đưa vào hoạt động nhưng đến nay xuống cấp dừng hoạt động.

Qua báo cáo của các đơn vị và giám sát trực tiếp cho thấy các dự án phát triển nguồn tập trung chậm tiến độ nguyên nhân chủ yếu là do chủ đầu tư chưa quyết liệt, tích cực triển khai thực hiện dự án theo tiến độ, kế hoạch đã được phê duyệt; đối với các dự án phát triển mạng thì về cơ bản các dự án không có vướng mắc lớn, UBND các huyện, chính quyền các xã, thị trấn đã quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị thi công theo kế hoạch, quá trình triển khai dự án một số công trình phải thực hiện các thủ tục cấp phép thi công đào hè, đường, đê, di chuyển công trình ngầm, nổi đã được các sở, ngành Thành phố xem xét, giải quyết đảm bảo quy định về trình tự, thủ tục và thời gian theo quy định. Về công tác giải phóng mặt bằng hiện chỉ có 01 dự án chưa giải phóng mặt bằng xây dựng 2 trạm tăng áp X1, X2 (Dự án xây dựng hệ thống mạng cấp nước sạch 8 xã huyện Chương Mỹ và khu vực lân cận), nguyên nhân chậm chủ yếu là do các chủ đầu tư chưa quyết liệt trong triển khai thực hiện dự án theo tiến độ, kế hoạch được phê duyệt, Thành phố đã có cơ chế tạo điều kiện để các chủ đầu tư được vay vốn từ Quỹ đầu tư song việc tiếp cận nguồn vốn gặp khó khăn do doanh nghiệp không đáp ứng đủ điều kiện để được vay vốn, công tác phối hợp giữa chính quyền địa phương với một số chủ đầu tư trong công tác giải phóng mặt bằng chưa tốt, chưa kịp thời, một số dự án chậm là do chủ đầu tư tính toán hiệu quả dự án, còn chờ tiến độ hoàn thành từ các dự án đầu tư phát triển nguồn nên chưa quyết liệt triển khai thực hiện, việc thu tiền ứng trước của các hộ dân để thi công lắp đặt đồng hồ đo nước được Thành phố thống nhất chủ trương nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể, thực tế qua triển khai thực hiện không thống nhất giữa các địa phương và giữa các doanh nghiệp dẫn đến so sánh, thắc mắc của Nhân dân nên nhiều hộ gia đình chưa đồng tình lắp đặt đồng hồ, hiện tại tỷ lệ đấu nối sử dụng nước sạch tại những nơi đã lắp đặt đường ống truyền dẫn và phân phối còn thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Đối với các trạm cấp nước sạch nông thôn, nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế do phần lớn các công trình cấp nước sạch nông thôn phân tán, có quy mô nhỏ, nhiều công trình xây dựng không đồng bộ, nhiều công trình sau khi bàn giao không sử dụng được ngay, phải cải tạo, đầu tư bổ sung mới có khả năng đưa vào khai thác kinh doanh với tổng mức đầu tư lớn, khó khăn trong việc thu hồi vốn và hoàn trả nguồn vốn ngân sách đã đầu tư, hiệu quả kinh doanh không cao không hấp dẫn các doanh nghiệp để tiếp nhận quản lý vận hành kinh doanh; chất lượng nước không đảm bảo ổn định, chưa đáp ứng tiêu chuẩn nước sạch đô thị do công nghệ cũ, lạc hậu, tỷ lệ thất thoát nước lớn do mạng truyền dẫn xuống cấp; tỉ lệ người dân sử dụng nước sạch chưa cao; một số đơn vị quản lý vận hành chưa thực hiện đầy đủ quy định về quản lý và giám sát chất lượng nước sau xử lý, nhiều đơn vị chưa thực hiện việc bổ sung công nghệ lọc mới hiện đại theo chỉ đạo của Thành phố, nhiều trạm cấp nước sạch nông thôn đang hoạt động nhưng chủ đầu tư không lắp đặt đồng hồ đo đếm nước đầu vào để làm cơ sở nộp thuế khai thác tài nguyên nước; việc bàn giao, chuyển nhượng dự án cho các nhà đầu tư quản lý vận hành gặp nhiều khó khăn đặc biệt liên quan đến giá trị tài sản còn lại của công trình, chất lượng công trình, hồ sơ pháp lý; giá tiêu thụ nước thấp, chưa được tính đúng, tính đủ chi phí hợp lý, Thành phố chưa ban hành khung giá nước đối với khu vực nông thôn, đơn vị quản lý vận hành tính giá nước trên cơ sở tự tính toán hoặc thỏa thuận với người dân mà chưa được cơ quan có chức năng thẩm định; công tác quản lý, khai thác vận hành, hoạch toán kinh doanh chưa đáp ứng yêu cầu dẫn đến thu không đủ bù chi, không đáp ứng được kinh phí duy tu, bảo dưỡng, tỷ lệ tái đầu tư thấp, công trình nhanh xuống cấp, hư hỏng do đó chưa khai thác hết công suất của một số nhà máy, trạm cấp nước tập trung đã hoàn thành; một số nơi công tác quy hoạch, cấp phép đầu tư xây dựng dự án cấp nước còn chồng lấn quy hoạch dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp và giảm hiệu quả đầu tư của dự án.

Từ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân khách quan, chủ quan đã được làm rõ qua giám sát, để khắc khắc phục kịp thời các tồn tại, hạn chế này và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án theo kế hoạch đã phê duyệt, Ban Đô thị HĐND Thành phố kiến nghị một số biện pháp tổ chức thực hiện trong thời gian tới đối với UBND Thành phố, các sở, ngành, UBND các huyện, thị xã và các chủ đầu tư.

Toàn văn báo cáo kết quả giám sát mời xem tại file đính kèm

Lượt xem: 626

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố Trần Thế Cương làm việc với 10 phường về công tác chuẩn bị bầu cử

Tin hoạt động - HĐND 1 ngày trước

Cùng dự có đồng chí Duy Hoàng Dương, Thành ủy viên, Trưởng Ban Pháp chế HĐND Thành phố; đại diện lãnh đạo các Ban HĐND Thành phố; đại diện Sở ngành và lãnh đạo 10 phường: Ba Đình, Ngọc Hà, Giảng Võ, Hoàng Mai, Lĩnh Nam, Vĩnh Hưng, Tương Mai, Định Công, Hoàng Liệt, Yên Sở.  Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố Trần Thế Cương chủ trì buổi giám sátTheo đánh giá của đoàn giám sát, thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và Thành phố về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, 10 phường đã và đang triển khai công tác chuẩn bị bầu cử nghiêm túc, bài bản, bảo đảm đúng tiến độ và quy định pháp luật.Các nội dung công việc được triển khai đúng quy trình, tiến độ như: việc thành lập Ban Chỉ đạo, Ủy ban bầu cử, các Tiểu ban phục vụ bầu cử. Các phường đã hoàn thành hội nghị hiệp thương lần thứ nhất, thống nhất cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND bảo đảm tính đại diện, tính kế thừa và đổi mới.Điểm đáng chú ý trong công tác chuẩn bị bầu cử tại các phường là việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Các đơn vị khai thác hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ứng dụng VNeID để lập, rà soát danh sách cử tri, góp phần hạn chế trùng lặp, sai sót. Các địa phương cũng đã hoàn thành việc xác định số đơn vị bầu cử, phân chia khu vực bỏ phiếu phù hợp với đặc điểm địa bàn, dân cư.Đại diện các phường báo cáo tại buổi làm việcBên cạnh kết quả đạt được, công tác chuẩn bị bầu cử tại các phường cũng gặp một số khó khăn trong rà soát, lập danh sách cử tri khi dân cư đông, biến động lớn, đặc biệt tại các địa bàn có nhiều nhà cho thuê, chung cư cao tầng, khu tái định cư hoặc đang giải phóng mặt bằng; phần mềm quản lý danh sách cử tri hiện chủ yếu trích xuất theo khu vực bỏ phiếu, chưa theo tổ dân phố; tốc độ xử lý dữ liệu còn chậm; đội ngũ cán bộ tham gia công tác bầu cử phần lớn là kiêm nhiệm, nhiều người lần đầu đảm nhận nhiệm vụ, trong khi khối lượng công việc lớn và yêu cầu tiến độ cao...Từ thực tế đó, các phường kiến nghị Công an Thành phố sớm tháo gỡ vướng mắc kỹ thuật, cho phép phần mềm trích xuất danh sách cử tri theo tổ dân phố; đồng thời nghiên cứu bổ sung tính năng thông báo thông tin bầu cử cho cử tri qua ứng dụng VNeID. Các đơn vị cũng đề xuất Thành phố sớm cấp phát đầy đủ kinh phí phục vụ bầu cử, trang bị thêm thiết bị công nghệ thông tin chuyên dụng và tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu về công tác bầu cử. Thành viên Đoàn giám sát phát biểu tại buổi làm việcTại buổi làm việc, thành viên đoàn giám sát đã trao đổi, làm rõ những nội dung liên quan đến công tác chuẩn bị bầu cử tại cơ sở. Đoàn đề nghị các phường tiếp tục rà soát chặt chẽ danh sách cử tri, bảo đảm không bỏ sót, không trùng lặp; chủ động cập nhật, phản ánh kịp thời những vướng mắc để các cơ quan chức năng xem xét, tháo gỡ...Phát biểu kết luận buổi giám sát, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố Trần Thế Cương cho biết, đoàn giám sát ghi nhận Ủy ban bầu cử các phường đã thực hiện đầy đủ, thực hiện tốt các quy định, hướng dẫn của Trung ương và Thành phố về công tác bầu cử. Với những khó khăn, vướng mắc và đề xuất của các đơn vị về việc rà soát dân cư, lập danh sách cử tri, sử dụng phần mềm quản lý thông tin bầu cử, cấp kinh phí, năng lực của cán bộ tham gia công tác bầu cử... Trưởng đoàn giám sát đề nghị các sở, ngành chức năng quan tâm tháo gỡ; quan tâm phối hợp rà soát danh sách cử tri trên VNeID kết hợp trực tiếp tại địa bàn dân cư. Đồng thời, cùng với việc đào tạo tập huấn, hướng dẫn cho cán bộ cơ sở, cần quan tâm tập huấn người ở tổ dân phố thực hiện nhiệm vụ bầu cử.Nhấn mạnh từ nay đến ngày bầu cử thời gian còn rất gấp, diễn ra ngay sau Tết nguyên đán với khối lượng công việc rất nhiều, có tính chất quyết định đến thành công của cuộc bầu cử,  Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố Trần Thế Cương đề nghị Ủy ban bầu cử các phường tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kết hợp với tuyên truyền vui Xuân đón Tết. Chú ý tuyên truyền theo mẫu hướng dẫn để có sự thống nhất, đồng bộ.Đồng thời, các phường tổ chức tốt các hội nghị tiếp xúc cử tri, vận động bầu cử; nghiêm túc thực hiện công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, không để phát sinh nhất là những vụ việc đông người, phức tạp, nhạy cảm; bảo đảm an ninh, trật tự; chuẩn bị kinh phí bảo cho công tác bầu cử... Nêu một số mốc thời gian cụ thể hoàn thành các công việc như: tiếp nhận hồ sơ ứng cử đại biểu HĐND phường; hoàn thành việc thành lập các Tổ bầu cử tại các khu vực bỏ phiếu bầu cử; hội nghị hiệp thương lần thứ hai và niêm yết danh sách cử tri; lấy ý kiến cử tri nơi cư trú của đại biểu HĐND các cấp; hội nghị hiệp thương lần thứ 3..., Phó Chủ tịch Thường trực HĐND Thành phố đề nghị các đơn vị thực hiện đúng tiến độ các mốc thời gian; thực hiện đúng quy trình, quy định, đặc biệt cần nghiêm túc chế độ gửi báo cáo đến Ủy ban bầu cử Thành phố để kịp thời chỉ đạo giải quyết đối với những vấn đề  thẩm quyền./.