Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời kiến nghị của cử tri Hà Nội gửi tới trước kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV

Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) vừa có Văn bản số 5013/BTNMT-PC ngày 25/8/2022 gửi Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội về trả lời kiến nghị của cử tri trước kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XV.

Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) vừa có Văn bản số 5013/BTNMT-PC ngày 25/8/2022 gửi Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội về trả lời kiến nghị của cử tri trước kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XV.

Theo đó, Bộ TNMT nhận được ý kiến của cử tri Thành phố Hà Nội do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến tại Công văn số 487/BDN ngày 14/6/2022. Bộ TNMT trả lời như sau:

Câu 1. Cử tri tiếp tục kiến nghị xem xét, đẩy nhanh việc trình sửa đổi Luật Đất đai và nêu những vướng mắc, bất cập. Đơn cử như: Việc thu hồi giải phóng mặt bằng gặp rất nhiều khó khăn do xác định giá đất chưa sát giá thị trường, chưa đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất; Giá đất cụ thể là do UBND cấp tỉnh quyết định, do vậy, xảy ra trường hợp hai mảnh đất cạnh nhau nhưng thuộc hai tỉnh sẽ áp dụng giá đất khác nhau; Việc cho thuê đất nông nghiệp công ích với thời hạn không quá 5 năm, khó khăn trong việc thực hiện, không thu hút được các doanh nghiệp và người dân tham gia vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp; Nhiều thửa đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp có phần diện tích đất còn lại sau thu hồi nhỏ, hẹp, xen kẹt, người dân muốn được thu hồi hết phần diện tích còn lại, trong khi chưa có quy định tiêu chí, tiêu chuẩn phần diện tích đất còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng; Quy định hạn mức đất ở tối đa 300m2 đối với các thửa đất nguồn gốc do ông cha để lại gây khó khăn trong việc chia tách, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Nhiều trường hợp nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất sau ngày 01/01/2008 mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, khi thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giải phóng mặt bằng thì gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc; Việc giải quyết tranh chấp đất đai đối với những trường hợp không có giấy tờ ...

Thực hiện Chương trình xây dựng Luật của Quốc hội, Bộ TNMT được giao chủ trì xây dựng Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) để trình Quốc hội xem xét cho ý kiến tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XV trên cơ sở bám sát, thể chế hóa nội dung tại Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Đối với các nội dung cử tri kiến nghị, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ nghiên cứu, xem xét để bổ sung quy định cho phù hợp và báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định.

Câu số 2. Thời gian gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu tiếp tục có diễn biến phức tạp, khó lường, đề nghị quan tâm, có các giải pháp xử lý hiệu quả những vấn đề này.

Về vấn đề ô nhiễm môi trường, Bộ TNMT ghi nhận ý kiến của cử tri phản ảnh tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay, đặc biệt là ô nhiễm môi trường tại các cơ sở, khu sản xuất, kinh doanh dịch vụ tập trung. Thời gian qua, Chính phủ, Bộ TNMT đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng loạt các biện pháp để giảm thiểu, khắc phục ô nhiễm môi trường từ việc hoàn thiện chính sách pháp luật, thanh tra, kiểm tra, tăng cường hoạt động giám sát trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; thay đổi mạnh mẽ về phương thức quản lý, chuyển từ bị động sang chủ động phòng ngừa, tiếp cận mô hình phát triển ít ảnh hưởng đến môi trường, hài hòa giữa vấn đề môi trường với vấn đề kinh tế - xã hội; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về công tác bảo vệ môi trường; tạo ra sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường. Qua đó, đã tập trung quản lý tốt 20-30% cơ sở có nguồn thải lớn, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao nhưng gây ra 70-80% các vấn đề môi trường để khoanh vùng, áp dụng các biện pháp phòng ngừa sự cố, giám sát chặt chẽ việc xả thải. Chủ động triển khai các biện pháp giám sát trong quá trình thử nghiệm và vận hành kết nối trực tuyến với hệ thống giám sát của Sở TNMT không để phát sinh các sự cố ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đến nay, cả Trung ương và địa phương đã đầu tư lắp đặt 1.234 trạm quan trắc nguồn thải có kết nối số liệu trực tiếp về Sở TNMT và Bộ TNMT. Từ năm 2016, Bộ TNMT đã thành lập và duy trì hiệu quả 12 Tổ giám sát đặc biệt đối với các tổ hợp dự án, cơ sở sản xuất kinh doanh công nghiệp quy mô lớn, nguy cơ ô nhiễm môi trường cao; hình thành mô hình giám sát có sự phối hợp “04 bên” giữa Tổng cục Môi trường, Sở TNMT, các tổ giám sát cộng đồng tại địa phương và các dự án/cơ sở giúp tăng cường giám sát hiệu quả, công khai, liên tục việc thực hiện các nội dung bảo vệ môi trường của cơ sở. Đến nay, nhiều dự án, cơ sở sản xuất đã đáp ứng đủ điều kiện đi vào vận hành chính thức, có đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Đặc biệt, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, Bộ TNMT đã triển khai rà soát, đánh giá thực trạng, xác định các vấn đề bất cập về chính sách và xây dựng các quy định mới, trình Quốc hội thông qua tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2022. Với nhiều quy định mới, mang tính đột phá như: thay đổi phương thức quản lý môi trường đối với dự án đầu tư theo các tiêu chí môi trường; kiểm soát chặt chẽ dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao, thực hiện hậu kiểm đối với các dự án có công nghệ tiên tiến và thân thiện môi trường; thúc đẩy phân loại rác thải tại nguồn; định hướng cách thức quản lý, ứng xử với chất thải, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam;... Ngày 10/01/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Bộ TNMT cũng ban hành Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường đã đảm bảo hướng dẫn kịp thời Luật Bảo vệ môi trường. Để tăng cường chế tài xử phạt vi phạm hành chính và đồng bộ với các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, ngày 07/7/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó quy định mức xử phạt rất cao đối với các hành vi cố tình vi phạm, gây hậu quả xấu tới môi trường. Theo đó, với hệ thống chính sách, pháp luật mới, Bộ TNMT cho rằng thời gian tới công tác quản lý về bảo vệ môi trường sẽ đạt những kết quả tích cực.

Để tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, trong năm 2022 và những năm tiếp theo, Bộ TNMT sẽ tập trung triển khai các giải pháp sau đây:

Thứ nhất, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm thể chế hóa việc thực hiện chủ trương không thu hút đầu tư bằng mọi giá, không đánh đổi môi trường vì lợi ích kinh tế, kiểm soát nguy cơ phát sinh sự cố môi trường và vấn đề ô nhiễm môi trường xuyên biên giới. Trong đó, tập trung vào một số nội dung trọng tâm sau:  Xây dựng các văn bản hướng dẫn và chuẩn bị các điều kiện bảo đảm sẵn sàng triển khai có hiệu quả Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Triển khai xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia, quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia làm cơ sở phân vùng, định hướng đầu tư, phát triển các ngành kinh tế, đảm bảo phù hợp với sức chịu tải của môi trường. Quy hoạch và phát triển mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia bảo đảm xây dựng hệ thống quan trắc và cảnh báo chất lượng môi trường đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thẩm định đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường. 

Rà soát, tiếp tục tăng cường cơ chế giám sát về bảo vệ môi trường đối với các dự án, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây sự cố, ô nhiễm môi trường cao, bảo đảm không để xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng, các dự án, cơ sở này vận hành an toàn về môi trường. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất; tăng cường công tác bảo vệ môi trường các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề; rà soát kiên quyết yêu cầu chủ đầu tư các khu công nghiệp, cụm công nghiệp xây dựng, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung, buộc các đối tượng có quy mô xả thải lớn lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải, khí thải tự động liên tục theo quy định của pháp luật, truyền số liệu trực tiếp về cơ quan quản lý nhà nước về môi trường để theo dõi, giám sát.

Tăng cường kiểm tra, thanh tra chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, tập trung vào các đối tượng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; tăng cường kiểm tra, thanh tra đột xuất, thực hiện thanh tra thường xuyên về bảo vệ môi trường. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường theo lộ trình để tiến tới áp dụng mức quy chuẩn, tiêu chuẩn tương đương các nước tiên tiến trong khu vực nhằm thiết lập các hàng rào kỹ thuật duy trì và bảo vệ môi trường, đảm bảo sự chủ động đề kháng trước các nguy cơ ô nhiễm môi trường, dịch chuyển công nghệ lạc hậu vào Việt Nam.

Thứ hai, thiết lập và triển khai có hiệu quả các cơ chế xã hội hóa nhằm huy động tổng lực sự tham gia của toàn xã hội trên cơ sở kết hợp giữa Nhà nước, các tổ chức, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân vào công tác bảo vệ môi trường, bảo đảm nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, “người hưởng lợi từ môi trường phải chi trả”. Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường thông qua việc tăng cường vai trò điều phối, phân bổ chi ngân sách, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách hành chính, đồng bộ hóa, hiện đại hóa hệ thống thông tin, dữ liệu về môi trường. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ có hiệu quả sự hỗ trợ của quốc tế trong công tác bảo vệ môi trường; nghiên cứu, kiến nghị cơ chế cử cán bộ đại diện ngoại giao về môi trường tại các nước. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường.

Thứ tư, tập trung tuyên truyền, hướng dẫn triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật, tập trung vào các quy định mới. Đẩy mạnh thực hiện các chương trình truyền thông theo hướng đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động đào tạo, truyền thông về môi trường.

Về vấn đề biến đổi khí hậu, nhận thức rõ diễn biến ngày càng phức tạp của biến đổi khí hậu, Chính phủ luôn quan tâm, chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương triển khai các giải pháp xử lý kịp thời, hiệu quả. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu Chính phủ ban hành kịp thời chính sách, pháp luật và triển khai thực hiện các giải pháp để ứng phó với biến đổi khí hậu. Nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định đầy đủ, bao quát về thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ô-dôn, tổ chức phát triển thị trường các-bon, lồng ghép nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào chiến lược và quy hoạch, cơ sở dữ liệu quốc gia về biến đổi khí hậu, báo cáo quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ô-dôn.

Triển khai thi hành Luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2002/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính tại Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg ngày 18/01/2022, ban hành Hệ thống giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu cấp quốc gia tại Quyết định số 148/QĐ-TTg ngày 28/01/2022. Bộ trưởng Bộ TNMT đã ban hành Thông tư số 01/2012/TT-BTNMT ngày 07/01/2022 quy định chi tiết thi hành Luật Bảo vệ môi trường về ứng phó với biến đổi khí hậu; ban hành Văn bản hợp nhất số 13/VBHN-BTNMT ngày 18/4/2022 đối với Thông tư số 08/2016/TT-BTNMT và Thông tư số 01/2022/TT-BTNMT quy định về đánh giá tác động của BĐKH và đánh giá khí hậu quốc gia.

Hiện nay, Bộ TNMT đang tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tiếp tục xây dựng trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết quy định ứng phó với biến đổi khí hậu, các quy định kỹ thuật có liên quan để giải quyết các vấn đề về biến đổi khí hậu ở nước ta.

Bên cạnh đó, Kịch bản Biến đổi khí hậu đã được cập nhật năm 2020 và công bố để cung cấp thông tin mới nhất về những biểu hiện, xu thế biến đổi trong quá khứ và những biến đổi khí hậu, nước biển dâng trong thế kỷ 21 ở Việt Nam; Báo cáo đánh giá khí hậu quốc gia được công bố năm 2022 đã phân tích những tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam ở hiện tại và trong tương lai; nhận định về những nỗ lực, thành quả và thiếu hụt trong ứng phó với BĐKH của Việt Nam.

Nhiệm vụ thích ứng với biến đổi khí hậu luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm triển khai thực hiện. Bộ TNMT đã phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2011-2015 và Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 1055/QĐ-TTg ngày 20/7/2020 về việc ban hành Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó đã đề ra danh mục các nhiệm vụ thực hiện Kế hoạch đối với 7 lĩnh vực: tăng cường công tác quản lý nhà nước và nguồn lực; lĩnh vực nông nghiệp; phòng chống thiên tai, môi trường và da dạng sinh học, tài nguyên nước; cơ sở hạ tầng, sức khỏe cộng đồng, lao động - xã hội, văn hóa, thể thao, du lịch.

Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050; Đề án về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị COP26; Kế hoạch hành động giảm phát thải khí mê-tan đến năm 2030; Đề án phát triển thị trường các-bon ở Việt Nam cũng đã được Bộ TNMT xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt, là cơ sở để triển khai các giải pháp góp phần thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26, thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu tại Việt Nam trong thời gian tới.

Câu số 3. Đề nghị Bộ TNMT tăng cường công tác quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm trách nhiệm đối với các cấp được phân quyền đối với tài nguyên cát, sỏi. Việc khai thác cát quản lý sai phép, trái phép, không theo quy hoạch, đang diễn ra ở một số nơi, vừa gây thất thoát tài nguyên của Nhà nước, vừa tác động xấu đến môi sinh, làm xói lở bờ sông, bờ suối đang gây bức xúc trong Nhân dân.

Trong thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt để xử lý tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, không phép, cụ thể như sau: Chính phủ đã ban hành 13 Nghị định; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 06 Quyết định và 03 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Bộ TNMT, các Bộ, ngành đã ban hành 62 Thông tư, Thông tư liên tịch. Các quy định của Luật khoáng sản và các văn bản dưới Luật theo hướng chặt chẽ, minh bạch và bền vững. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản và chấn chỉnh hoạt động khoáng sản của tổ chức, cá nhân. Theo đó, đã quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản, nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản trong công tác bảo vệ môi trường, phục hồi môi trường trong hoạt động khoáng sản.

Ngày 30/3/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TTg về việc tăng cường hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản; ngày 29/9/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 38/CT-TTg về việc tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản (thay thế Chỉ thị số 03/CT-TTg nêu trên). Tại các Chỉ thị, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan và các địa phương thực hiện nhiều giải pháp tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản, nhất là công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về khoáng sản, thanh tra trách nhiệm đối với các tổ chức hành chính và người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường; kiểm tra, xử lý theo quy định đối với các cơ sở chế biến, sử dụng khoáng sản không có nguồn gốc hợp pháp, các cơ sở chế biến có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đặc biệt, tại Chỉ thị số 38/CT-TTg nêu trên, Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cụ thể đối
với từng Bộ, ngành liên quan và UBND cấp tỉnh để triển khai thực hiện các quy định mới của 05 Nghị định trong lĩnh vực khoáng sản đã được ban hành từ khi có Chỉ thị số 03/CT-TTg đến nay.

Tại nhiệm kỳ trước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần chủ trì các Hội nghị trực tiếp, trực tuyến với các Bộ, ngành liên quan và các địa phương, trực tiếp kiểm tra việc khai thác cát, sỏi tại một số địa phương nhằm giải quyết triệt để việc khai thác cát, sỏi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và cuộc sống của người dân. Theo đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành và địa phương liên quan tiếp tục mở đợt cao điểm trấn áp tội phạm trong khai thác cát, sỏi trái phép, giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành và địa phương để khắc phục tình trạng này.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các lực lượng chức năng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều biện pháp đấu tranh, phát hiện, bắt giữ, xử lý cương quyết, nghiêm khắc theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực khoáng sản.

Bộ TNMT đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt để xử lý tình trạng khai thác khoáng sản trái phép nói chung và khai thác cát, sỏi trái phép nói riêng. Theo đó, từ năm 2015 đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành các Nghị định: 

Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản thay thế Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 09/3/2012, theo đó, Nghị định 158/2016/NĐ-CP đã bổ sung nhiều nội dung mới nhằm tăng cường công tác quản lý khoáng sản, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp khi được giao quyền khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, đã quy định cụ thể hơn trách nhiệm quản lý bảo vệ khoáng sản chưa khai thác tại Chương III; hướng dẫn nội dung Phương án bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; quy định rõ trách nhiệm của UBND các cấp, quy định rõ trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu các địa phương nếu để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép hoặc khai thác trái phép kéo dài mà không xử lý.

Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản (thay thế các Nghị định số: 142/2013/NĐ-CP và 33/2017/NĐ-CP, Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2020).

Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên nước và khoáng sản; khí tượng thủy văn; đo đạc bản đồ, theo đó nội dung Nghị định đã bổ sung thêm nhiều hành vi vi phạm, tăng mức xử phạt các hành vi vi phạm từ 2 đến 3 lần, đặc biệt đã quy định riêng về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khai thác cát, sỏi và đã tăng mức xử phạt cao nhất theo quy định nhằm đủ sức răn đe các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trái phép, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản. Mặt khác, Bộ đã thực hiện nhiều hình thức phổ biến pháp luật về khoáng sản; đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm của Bộ nội dung thanh tra, kiểm tra chuyên đề để xử lý các hành vi gây tổn thất lớn khoáng sản, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phối hợp với các địa phương để nắm bắt thông tin, kiểm tra, xử lý hoạt động khai thác khoáng sản trái phép.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 23/2000/NĐ-CP ngày 24/02/2020 Quy định về quản lý cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng, bờ, bãi sông (có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2020). Nội dung Nghị định đã quy định rõ hơn về trách nhiệm của người đứng đầu nếu để xảy ra tình trạng khai thác cát, sỏi trái phép; quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp của các địa phương, của lực lượng cảnh sát đường thủy đối với việc khai thác cát, sỏi trái phép nhất là ở vùng giáp ranh giữa các địa phương. Nghị định đi vào cuộc sống sẽ góp phần rất quan trọng để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, chấn chỉnh các hoạt động khai thác và vận chuyển cát, sỏi lòng sông.

Về phía các địa phương: hiện nay, hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã lập và phê duyệt quy hoạch khoáng sản trong đó có cát, sỏi lòng sông; ban hành nhiều Chỉ thị, văn bản chỉ đạo điều hành, phê duyệt kế hoạch hoặc phương án bảo vệ khoáng sản, quy định trách nhiệm UBND cấp huyện, cấp xã trong quản lý khoáng sản trên địa bàn. Riêng đối với khoáng sản cát, sỏi lòng sông ngoài việc triển khai công tác thanh tra, kiểm tra, nhiều tỉnh đã ban hành quy chế phối hợp giữa các Sở, ngành; ban hành quy chế phối hợp quản lý khoáng sản cát, sỏi lòng sông tại các khu vực giáp ranh, các lưu vực sông,... thực hiện đồng thời nhiều biện pháp như quản lý chặt chẽ bến bãi, lập đường dây nóng, nghiêm cấm việc mua bán cát, sỏi không có nguồn gốc hợp pháp. Đến nay các tỉnh, thành phố trên địa bàn cả nước đã ban hành 52 Quy chế quản lý cát, sỏi lòng sông ở những khu vực giáp ranh, có 652 bến, bãi tập kết vật liệu xây dựng được cấp giấy phép hoạt động.

Các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể trong thời gian tới để thực hiện tốt hơn công tác bảo vệ khoáng sản:

Các Bộ, ngành liên quan khẩn trương tổ chức thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nội dung nhiệm vụ quy định cụ thể trong Nghị định số 23/2020/NĐ-CP nêu trên, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 38/CT-TTg và các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, theo đó, các địa phương ban hành và thực hiện đúng cam kết Quy chế phối hợp trong quản lý, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản (nhất là cát, sỏi lòng sông) tại khu vực giáp ranh; cương quyết xử lý người đứng đầu địa phương nếu để xảy ra hoạt động khai thác cát, sỏi trái phép, gây bức xúc dư luận; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định tại các Nghị định: số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên nước và khoáng sản; khí tượng thủy văn, đo đạc bản đồ.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục rà soát, chấn chỉnh các hoạt động thăm dò, khai thác cát, sỏi lòng sông và thu hồi cát từ các dự án nạo vét, khơi thông luồng lạch trên địa bàn; cấp phép mở bến, bãi tập kết, kinh doanh cát, sỏi trên cơ sở quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; kiên quyết xử lý dứt điểm bến bãi tập kết kinh doanh cát, sỏi trái phép và có biện pháp chống tái diễn. Phát huy vai trò giám sát của người dân, của cộng đồng đối với chính quyền và với doanh nghiệp của chính quyền cấp trên đối với chính quyền cấp dưới; tăng cường giám sát quá trình khai thác của các doanh nghiệp theo đúng Giấy phép và các quy định của pháp luật có liên quan, đặc biệt là nơi có nguy cơ sảy ra sạt lở.

Xem văn bản tại file đính kèm./.

Lượt xem: 454

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

LIÊN KẾT WEBSITE
  • Đang truy cập20
  • Hôm nay394
  • Tháng hiện tại2,493
  • Tổng lượt truy cập1,527,696