Kết quả giám sát tình hình thực hiện Kết luận chất vấn tại kỳ họp thứ 14 HĐND Thành phố về vấn đề nước sạch nông thôn
Đoàn giám sát đã kiến nghị với UBND Thành phố xem xét lại chỉ tiêu nước sạch để phù hợp với thực tế của từng địa phương. Chỉ đạo rà soát lại 110 trạm cấp nước kể cả các trạm nhỏ cấp thôn hoạt động không hiệu quả để có các giải pháp phù hợp. Rà soát lại quy hoạch cấp nước sạch để điều chỉnh cho phù hợp với thực tế, gắn với hệ thống cung cấp nước sạch đô thị...
Thực hiện Chương trình công tác năm 2016, Ban Văn hóa - Xã hội HĐND Thành phố đã tổ chức giám sát việc thực hiện Kết luận chất vấn tại kỳ họp thứ 14 HĐND Thành phố về vấn đề nước sạch nông thôn.

Đoàn giám sát kiểm tra tại công trình nước sạch xã Phú Nam An (Chương Mỹ)
Qua giám sát cho thấy, tính đến hết năm 2015 tổng số người được sử dụng nước hợp vệ sinh từ các loại hình cấp nước là 99%. Số người dân nông thôn được sử dụng nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT chiếm tỷ lệ 35,5%. Trong đó: Số người được sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước đô thị chiếm 6,5%; số người được sử dụng nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung nông thôn chiếm 7,7%; số người được sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước nhỏ lẻ hộ gia đình (người dân tự lọc bằng các thiết bị lọc nước hộ gia đình) chiếm tỷ lệ 21,3%. Tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh là 98,04%; nước đạt QCVN 02:2009/BYT là 35,55%.
Các chính sách hỗ trợ đầu tư công trình cấp nước sạch nông thôn theo Nghị quyết số 25/2013/NQ-HĐND ngày 04/12/2013 của HĐND Thành phố và Quyết định số 32/2014/QĐ-UBND ngày 04/8/2014 của UBND Thành phố đã được công bố công khai trên cổng thông tin điện tử và các phương tiện thông tin đại chúng của Thành phố. Đến nay, đã có 10 dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách đầu tư vào lĩnh vực nước sạch nông thôn hoàn thành thủ tục đầu tư, trong đó có 04 dự án đầu tư mới với tổng vốn đã đăng ký là 302,177 tỷ đồng.
Đối với 06 dự án thí điểm cấp nước sạch liên xã đã được chuyển đổi hình thức đầu tư, đến nay các dự án này đã được lập và công bố danh mục để kêu gọi xã hội hóa theo quy định. Đối với 07 dự án cấp nước sạch bằng nguồn vốn WB, đến nay, các dự án này đã được bố trí 329,997 tỷ đồng, trong đó kế hoạch vốn năm 2016 bố trí 123,212 tỷ đồng (vốn vay WB: 120,712 tỷ đồng; vốn trong nước 2,5 tỷ đồng). Việc bố trí vốn vay WB và vốn đối ứng trong nước năm 2016 cho các dự án trên phù hợp với tiến độ thực hiện và khả năng triển khai của chủ đầu tư.
Đối với dự án hỗ trợ xây dựng 30.000 thiết bị xử lý nước hộ gia đình. Năm 2016, Thành phố đã cân đối bố trí 30 tỷ đồng để tiếp tục thực hiện dự án hỗ trợ, xây dựng 40.000 bể lọc xử lý nước hộ gia đình. Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang lập dự án đầu tư trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, phối hợp với UBND huyện Mỹ Đức và Chương Mỹ tiến hành điều tra, khảo sát lập danh sách của 6.500 hộ gia đình được hưởng hỗ trợ, dự kiến đến hết quý III năm 2016 sẽ hoàn thành việc hỗ trợ cho các gia đình…
Nhìn chung, hiệu suất hoạt động trung bình của tất cả các trạm đạt khoảng 75% so với công suất thiết kế. Trong số 83 trạm cấp nước có 31 trạm có quy trình vận hành, chiếm tỷ lệ 37,3%; 41 trạm cấp nước có nhật ký vận hành, chiếm tỷ lệ 49,4%.
Tuy nhiên, “Quy hoạch cấp nước sạch nông thôn và vệ sinh môi trường nông thôn thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” theo Quyết định số 2691/QĐ-UBND ngày 18/4/2013 của UBND Thành phố đến nay một số nơi không còn phù hợp, nhất là ở các địa phương không có nguồn nước ngầm hoặc nguồn nước mặt bị ô nhiễm. Mô hình quản lý không thống nhất, hiện nay đang tồn tại 4 mô hình quản lý (doanh nghiệp, UBND xã, hợp tác xã và cộng đồng), tuy nhiên việc giao cho cộng đồng, UBND xã, hợp tác xã quản lý chỉ phục vụ việc khai thác, không có duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời. Chưa xây dựng được quy trình sản xuất, xử lý, vận hành nước đối với các trạm cấp nước đã đi vào hoạt động. Công tác vệ sinh tại các trạm cấp nước, nhất là vấn đề xử lý chất thải trong quá trình lọc nước chưa được quan tâm. Chất thải trong quá trình lọc nước có chứa rất nhiều các kim loại (sắt, asen…) độc hại với cơ thể con người chưa được xử lý, đang được các trạm cấp nước xả thẳng ra môi trường. Các chỉ tiêu về nước sạch nông thôn đề ra chưa sát với khả năng thực hiện; chỉ tiêu nước hợp vệ sinh không còn phù hợp với thành phố Hà Nội…
Đoàn giám sát đã kiến nghịvới UBND Thành phố xem xét lại chỉ tiêu nước sạch để phù hợp với thực tế của từng địa phương. Chỉ đạo rà soát lại 110 trạm cấp nước kể cả các trạm nhỏ cấp thôn hoạt động không hiệu quả để có các giải pháp phù hợp. Rà soát lại quy hoạch cấp nước sạch để điều chỉnh cho phù hợp với thực tế, gắn với hệ thống cung cấp nước sạch đô thị. Hiện nay, việc khai thác nguồn nước thô để sản xuất nước sạch ở các trạm cấp nước của huyện Mỹ Đức là rất khó khăn (nguồn nước ngầm không được khai thác, nguồn nước mặt bị ô nhiễm). Đề nghị xem xét cho đấu nối nguồn nước sông Đà đoạn tiếp giáp với xã Vạn Thái (huyện Ứng Hòa) để cung cấp nước sạch cho nhân dân sử dụng…
Đối với các Sở: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Y tế: Tham mưu cho UBND Thành phố xây dựng mô hình và có cơ chế chính sách sau đầu tư. Đẩy nhanh tiến độ các dự án từ nguồn vốn WB; có giải pháp đảm bảo môi trường các dòng sông, môi trường tại các hồ nước ngọt, có giải pháp để trữ nước ngọt. Đẩy nhanh tiến độ các dự án xây dựng các trạm cấp nước sạch nông thôn đã được UBND Thành phố chấp thuận cho phép chuyển đổi hình thức đầu tư, sớm đưa vào hoạt động, đảm bảo tính khả thi; đồng thời bố trí kinh phí hỗ trợ các dự án đầu tư nước sạch nông thôn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm giai đoạn 2016- 2020. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra quy trình sản xuất nước, kiểm định nguồn nước, chất lượng nước. Cấp kinh phí cho các Trung tâm Y tế huyện thực hiện nhiệm vụ kiểm định chất lượng nước theo phân cấp của Sở Y tế. Có cơ chế hỗ trợ cho các hộ gia đình tự kiểm định chất lượng nước…
Đối với các quận, huyện, thị xã phối hợp với các sở, ngành Thành phố rà soát lại danh mục quy hoạch cấp nước sạch báo cáo với UBND Thành phố để sửa đổi, bổ sung quy hoạch cho phù hợp với thực tế. Phối hợp với Sở Y tế, Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường Hà Nội thường xuyên thực hiện việc kiểm định chất lượng nước sinh hoạt theo quy định. Tăng cường công tác quản lý chất lượng nước đối với nguồn nước do các hộ dân tự khai thác.
Đối với doanh nghiệp thường xuyên thực hiện việc kiểm định chất lượng nước theo quy định. Công khai quy trình sản xuất nước, xây dựng quy trình xử lý nước thải, đánh giá tác động của môi trường. Xây dựng phương án giá nước có tính đúng, tính đủ trình Sở Tài chính phê duyệt theo quy định./.
Toàn văn kết quả giám sát xem tại đây
TÚ ANH
Lượt xem: 506
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.