Thủ tướng Chính phủ trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội Đỗ Đức Hồng Hà

Ngày 18/7/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản số 609/TTg-QHĐP về việc trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội Đỗ Đức Hồng Hà, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội.

Ngày 18/7/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản số 609/TTg-QHĐP về việc trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội Đỗ Đức Hồng Hà, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội.

Theo đó, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Bình Minh nhận được chất vấn của Đại biểu Quốc hội Đỗ Đức Hồng Hà, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XV. Nội dung gồm 3 câu hỏi:

Câu 1: Khi nào Chính phủ giải quyết xong vướng mắc trong việc thực hiện công tác giao đất dịch vụ cho các hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp bị thu hồi để thực hiện các dự án.

Câu 2: Chính phủ có giải pháp gì hỗ trợ thanh niên nông thôn và thanh niên miền núi trong lĩnh vực công nghệ, đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Câu 3: Chính phủ làm rõ lộ trình cải cách tiền lương để bảo đảm phù hợp, kịp thời với sự phát triển của xã hội và sự gia tăng rất lớn của giá cả.

Đối với 3 câu hỏi của Đại biểu Quốc hội Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Bình Minh trả lời như sau:

Câu 1: Ngày 22 tháng 10 năm 2021, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội có văn bản số 296/BC-UBND báo cáo Thủ tướng Chính phủ về vướng mắc, tồn tại trong công tác giao đất dịch vụ cho người có đất nông nghiệp thu hồi trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Công tác giao đất dịch vụ cho người có đất nông nghiệp thu hồi để ổn định đời sống và sản xuất trên địa bàn thành phố Hà Nội đã diễn ra trong thời gian dài (từ năm 1993 đến nay) trên địa bàn nhiều quận, huyện và cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ cũng thay đổi theo từng giai đoạn, tại mỗi địa bàn lại áp dụng cơ chế chính sách giao đất dịch vụ khác nhau. Trước thời điểm sát nhập địa giới hành chính vào thành phố Hà Nội, huyện Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc trước dây áp dụng hỗ trợ giao đất dịch vụ theo Quyết định số 2502/QĐ-UBND ngày 22 tháng 7 năm 2004 do Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ban hành; các quận, huyện: Hà Đông, Thanh Oai, Quốc Oai, Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Tây trước đây áp dụng theo Quyết định số 1098/QĐ-UBND ngày 28 tháng 6 năm 2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây, huyện Thanh Trì áp dụng theo Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND ngày 09 tháng 6 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. 

Do đó, việc thành phố Hà Nội đề xuất ban hành Nghị quyết của Chính phủ để đưa ra cơ chế giải quyết hỗ trợ giao đất dịch vụ chung cho các địa bàn có vướng mắc khác nhau, thời điểm, quá trình tổ chức thực hiện khác nhau sẽ không thể giải quyết được cụ thể các khó khăn, vướng mắc có tính chất đặc thù riêng của từng địa bàn.

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cần chỉ đạo rà soát, phân loại các trường hợp có vướng mắc về giao đất dịch vụ trên từng quận, huyện theo từng giai đoạn cụ thể, xác định thời điểm thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của từng nhóm đối tượng để áp dụng chính sách, pháp luật giai đoạn đó, làm cơ sở giải quyết hỗ trợ giao đất dịch vụ cho người có đất thu hồi. Trường hợp cần thiết để đảm bảo ổn định đời sống, sản xuất, công bằng cho người có đất thu hồi (thuộc nhóm đối tượng không đủ điều kiện được giao đất dịch vụ theo quy định pháp luật khi thực hiện các dự án trong giai đoạn từ năm 2006 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014) thì UBND thành phố Ilà Nội chỉ đạo rà soát từng trường hợp cụ thể, báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép áp dụng biện pháp hỗ trợ khác theo quy định.

Đối với vướng mắc về giao đất dịch vụ cho người có đất nông nghiệp thu hồi tại huyện Mê Linh, huyện Thanh Trì, UBND thành phố Hà Nội cần tổ chức thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (Công văn số 9183/VPCP-NN ngày 03 tháng 11 năm 2020) và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Công văn số 3612/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 06 tháng 7 năm 2020, số 7093/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 15 tháng 12 năm 2020, số 1764/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 16 tháng 4 năm 2021). Trường hợp trong quá trình tổ chức thực hiện có khó khăn, vướng mắc thì cần có báo cáo cụ thể để cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

Câu 2:

1. Việc ban hành chính sách, pháp luật về thanh niên trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

a) Ngày 16 tháng 6 năm 2020, Quốc hội đã thông qua Luật Thanh niên năm 2020, trong đó quy định chính sách đối với thanh niên trên các lĩnh vực: học tập, nghiên cứu khoa học và khởi nghiệp, là căn cứ pháp lý để các bộ, ngành, địa phương xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện và hỗ trợ thanh niên nói chung, thanh niên nông thôn, thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ.

b) Thực hiện Luật Thanh niên năm 2020, ngày 24 tháng 7 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1331/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, trong đó quy định 04 chỉ tiêu cụ thể và nhiệm vụ, giải pháp thực hiện nhằm tạo điều kiện hỗ trợ thanh niên trong lĩnh vực khoa học, công nghệ.

c) Nhằm đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài khoa học và công nghệ, ưu đãi trong sử dụng nhân lực, nhân tài hoạt động khoa học và công nghệ, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2014 quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân trong hoạt động khoa học và công nghệ, trong đó có đối tượng nhà khoa học trẻ tài năng; Nghị định số 27/2020/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 40/2014/NĐ-CP và Nghị định số 87/2014/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu hút cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam.

d) Ngày 18 tháng 5 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 844/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025".

đ) Ngày 30 tháng 10 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025 tại Quyết định số 1665/QĐ-TTg với mục tiêu thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của học sinh, sinh viên; trang bị kiến thức, kỹ năng khởi nghiệp và tạo môi trường thuận lợi cho học sinh, sinh viên hình thành và hiện thực hóa ý tưởng, dự án khởi nghiệp, góp phần tạo việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp.

e) Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14 tháng 10 năm 2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, trong đó có Tiểu dự án 2 “Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”.

2. Một số nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ thanh niên nói chung, thanh niên nông thôn, thanh niên vùng dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ: Thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực, Bộ Khoa học và Công nghệ và Ủy ban Dân tộc đã triển khai các nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ thanh niên nói chung, thanh niên nông thôn, thanh niên vùng dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, cụ thể như sau:

a) Hỗ trợ các nhà khoa học trẻ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tham dự và báo cáo kết quả tại hội nghị, hội thảo quốc tế (thông qua Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia); khuyến khích các nhà khoa học trẻ tài năng chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia,...

b) Tổ chức Ngày hội Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia - TECNIFIEST với các chuỗi hoạt động ở cấp địa phương, vùng và quốc tế, với các hoạt động hỗ trợ thanh niên như: truyền thông; tìm kiếm và phát triển ý tưởng sáng tạo khởi nghiệp trong sinh viên; tư vấn, hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp, xây dựng chương trình hỗ trợ vốn cho thanh niên khởi nghiệp; thành lập Quỹ hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp; kiến nghị chính sách khởi nghiệp đối với thanh niên.

c) Tổ chức tập huấn kiến thức nâng cao kiến thức về chuyển đổi số và khởi nghiệp sáng tạo cho thanh niên nông thôn; tổ chức hội thảo, tập huấn các lớp giáo dục STEM/STEAM cho các giáo viên, học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn,...

d) Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tạo điều kiện để mọi thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được cập nhật các thông tin cần thiết về lĩnh vực công tác dân tộc.

đ) Đẩy mạnh thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, chuyển giao công nghệ; tăng cường chuyển giao công nghệ mới từ nước ngoài vào địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

e) Triển khai đồng bộ các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030.

Chính phủ giao Bộ Nội vụ tiếp tục theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan để xuất Chính phủ có giải pháp hỗ trợ thanh niên nông thôn, thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong lĩnh vực công nghệ, phù hợp với chương trình, mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030.


Câu 3: Căn cứ Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21 tháng 5 năm 2018 của Hội nghị Trung ương 7 Khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 107/NQ-CP ngày 16 tháng 8 năm 2018 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, trong đó đã phân công nhiệm vụ cho các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng cụ thể các nội dung của chế độ tiền lương mới để thực hiện từ năm 2021. Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố bất lợi, đặc biệt là ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên Hội nghị Trung ương 13 khoá XII và Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã chỉ đạo lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW vào thời điểm phù hợp.

Thực hiện Kết luận số 20-KL/TW ngày 16 tháng 10 năm 2021 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về kinh tế - xã hội năm 2021 - 2022, căn cứ tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2022 và dự kiến những năm tiếp theo, Chính phủ sẽ chỉ đạo các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng lộ trình thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW để trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương việc thực hiện cải cách chính sách tiền lương vào thời điểm phù hợp.

Xem văn bản tại file đính kèm./.

Lượt xem: 210

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

LIÊN KẾT WEBSITE
  • Đang truy cập19
  • Hôm nay393
  • Tháng hiện tại2,492
  • Tổng lượt truy cập1,527,695