Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Vị nữ Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước ta

Trên cơ sở kết quả bầu cử, Tổng Thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trình bày dự thảo Nghị quyết bầu chức danh Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử Quốc gia đối với bà Nguyễn Thị Kim Ngân. Quốc hội đã biểu quyết thông qua nghị quyết với số đại biểu tham gia 474, số đại biểu tán thành 474. (Đạt tỷ lệ 100% đại biểu Quốc hội có mặt tại kỳ họp tán thành).

Sáng ngày 31 tháng 3 năm 2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII, các đại biểu Quốc hội đã bỏ phiếu bầu Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Hội đồng bầu cử Quốc gia. Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó chủ tịch Quốc hội đương nhiệm là ứng cử viên duy nhất được Ủy ban thường vụ Quốc hội và các đại biểu Quốc hội đã nhất trí giới thiệu để bầu đảm nhiệm chức danh này.

Tân Chủ tịch Quốc hội trong giây phút tuyên thệ

Theo tiểu sử được đăng tải trên website Quốc hội:

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân sinh năm 1954, quê ở Bến Tre.

Bà đã từng giữ các chức vụ Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Bến Tre, Thứ trưởng Bộ Tài chính, Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương; Thứ trưởng Thường trực Bộ Thương mại, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 13, bà được bầu là Phó Chủ tịch Quốc hội.

Bà Ngân là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ khoá 9 đến khoá 12. Tại hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa 11), bà được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị. Tại Đại hội 12 của Đảng, bà tiếp tục trúng cử Ban Chấp hành Trung ương và sau đó được bầu vào Bộ Chính trị.

Hồi 8 giờ 30 phút, 484 đại biểu Quốc hội có mặt tại Hội trường tiến hành bỏ phiếu bầu. Kết quả:

Đối với phiếu bầu chức vụ Chủ tịch QH, số phiếu hợp lệ là 481 phiếu, 3 phiếu không hợp lệ bằng 0,6% tổng số ĐBQH. Số phiếu đồng ý 472 bằng 95,5% tổng số ĐBQH. Không đồng ý là 9 phiếu bằng 1,82% tổng số ĐBQH.

Đối với Chức vụ Chủ tịch Hội đồng bầu cử Quốc gia, số phiếu hợp lệ 477 phiếu, không hợp lệ 7 phiếu. Số phiếu đồng ý là 467 phiếu không đồng ý 10 phiếu.

Căn cứ nội quy kỳ họp và thể lệ bầu cử, bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã trúng cử chức danh Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử Quốc gia

Trên cơ sở kết quả bầu cử, Tổng Thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trình bày dự thảo Nghị quyết bầu chức danh Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử Quốc gia đối với bà Nguyễn Thị Kim Ngân. Quốc hội đã biểu quyết thông qua nghị quyết với số đại biểu tham gia 474, số đại biểu tán thành 474. (Đạt tỷ lệ 100% đại biểu Quốc hội có mặt tại kỳ họp tán thành).

Ngay sau khi Nghị quyết được Quốc hội thông qua; dưới lá cờ đỏ sao vàng, trước Quốc hội và cử tri cả nước, bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã tuyên thệ:

"Tôi xin trân trọng cảm ơn Quốc hội đã bầu tôi làm Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Trước Quốc hội, đồng bào cử tri cả nước, tôi xin tuyên thệ: Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam.

Tôi nguyện nỗ lực rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó".

Tôi luôn khắc ghi lời tuyên thệ trước Quốc hội, để thực hiện đầy đủ, nhiệm vụ quyền hạn của Chủ tịch Quốc hội theo luật định. Phát huy truyền thống tốt đẹp của những người đi trước, tôi sẽ cùng với Ủy ban Thường vụ Quốc hội lãnh đạo, thực hiện tốt nhiệm vụ cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Thay mặt các đại biểu Quốc hội, ông Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Chủ tịch Quốc hội đã chúc mừng và tặng hoa tân Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân ./.

Nguyễn Xuân Diên

Lượt xem: 602

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.