Bàn về bổ sung các tội danh mới trong Dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) và sự mong ước một đất nước bình yên để phát triển

Việc bổ sung tội danh mới không ngoài mục đích bảo đảm thực hiện tốt hơn kỷ cương phép nước về bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức; đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới; thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi người được sống trong một môi trường xã hội yên lành, đồng thời thực hiện đúng và đủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia...

Dự thảo Bộ luật Hình sự (BLHS) vừa được công khai xin ý kiến nhân dân hiện có 37 tội danh mới được bổ sung. Cơ quan chủ trì soạn thảo – Bộ Tư pháp cho rằng những tội danh mới này được đề xuất bổ sung phù hợp với Hiến pháp, đồng bộ với các đạo luật, pháp lệnh đã được ban hành cũng như các luật, dự luật, pháp lệnh đang được sửa đổi, bổ sung; phù hợp yêu cầu thực tế về công tác phòng chống tội phạm hiện nay; phù hợp các luật về quyền con người, quyền công dân, doanh nghiệp trong nước và các quyền khác được ghi nhận trong các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết…

Việc bổ sung tội danh mới không ngoài mục đích bảo đảm thực hiện tốt hơn kỷ cương phép nước về bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức; đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới; thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi người được sống trong một môi trường xã hội yên lành, đồng thời thực hiện đúng và đủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Các tội danh mới trong Dự thảo BLHS (sửa đổi) gồm:

- Tội khiêu dâm trẻ em (Điều 146); tội mua bán, chiếm đoạt mô, tạng, các bộ phận cơ thể người (Điều 153); Tội đăng ký con nuôi, nhận cha, mẹ, con trái pháp luật (Điều 184); tội đăng ký hộ tịch trái pháp luật (Điều 185); tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại (Điều 189);

- Tội vi phạm quy định về sử dụng điện (Điều 201); tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán (Điều 216);

- Tội trục lợi trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 217); tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Điều 218); Tội gian lận bảo hiểm y tế (Điều 219); tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (Điều 220); tội vi phạm quy định về cạnh tranh (Điều 221); tội vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản (Điều 222);

- Tội vi phạm quy định về an toàn vận hành công trình thủy lợi, hồ chứa, liên hồ chứa, đê điều và công trình phòng, chống thiên tai (Điều 234); tội vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông, các công trình về tài nguyên nước (Điều 235);

- Tội tàng trữ trái phép cây giống cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc cây giống các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 245); tội vận chuyển trái phép cây giống cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc cây giống các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 246); tội mua bán trái phép cây giống cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc cây giống các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 247); tội chiếm đoạt cây giống cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc cây giống các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 248);

- Tội rải đinh hoặc vật sắc, nhọn trên đường bộ (Điều 270); tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm dùng để tấn công mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 294); tội truy cập trái phép tài khoản ngân hàng của tổ chức, cá nhân chiếm đoạt tài sản (Điều 300); tội cố ý xâm phạm, tấn công vào trạm trung chuyển Internet quốc gia, hệ thống cơ sở dữ liệu tên miền và hệ thống máy chủ tên miền quốc gia (Điều 301);

- Tội sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh (Điều 302); tội cố ý gây nhiễu có hại (Điều 303);

- Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa về tài khoản ngân hàng (Điều 304); tội sản xuất mua bán, tàng trữ, lưu hành thẻ ngân hàng giả để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 305); tội thiết lập, quản trị, điều hành website để kinh doanh trái phép tiền điện tử, dịch vụ, hàng hóa trên mạng máy tính (Điều 306);

 - Tội cưỡng bức lao động (Điều 309); tội bắt cóc con tin (Điều 314); tội cướp biển (Điều 315); Tội vi phạm quy định về giam giữ (Điều 401); tội không tôn trọng tòa án (Điều 404); tội ra mệnh lệnh trái pháp luật (Điều 406); Tội thiếu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ công tác quân sự gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 409); tội vắng mặt trái phép (Điều 416); tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sỹ (Điều 433).

Mặc dù Ban soạn thảo có rất nhiều cố gắng để hoàn chỉnh Dự thảo BLHS khi công khai xin ý kiến. Song với các tội danh mới vẫn còn rất nhiều ý kiến luận bàn. Làm thế nào để bảo đảm bổ sung đúng và không bỏ lọt tội. Qua các ý kiến thảo luận góp ý của nhiều chuyên gia và các tầng lớp nhân dân Thủ đô, có thể tổng hợp lại 3 loại ý kiến như sau:

Loại ý kiến thứ nhất: Đồng tình với việc bổ sung 37 tội danh trên và cho rằng, việc bổ sung có cơ sở thực tế về tình hình tội phạm đã và đang diễn ra gây hậu quả xấu, nghiêm trọng đối với xã hội nói chung và với công tác an toàn trật tự, quản lý nhà nước trên các lĩnh vực làm cho việc xử lý của các cơ quan công an, tư pháp rất lúng túng và khó khăn. Việc bổ sung này còn nhằm thực hiện chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, Nhà nước góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nhất là quyền về an sinh xã hội, quyền sống trong môi trường an toàn, lành mạnh và giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

Loại ý kiến thứ hai : Đề nghị cần xem xét, tính chất, hành vi và hậu quả một số tội danh như: Tội rải đinh hoặc vật sắc, nhọn trên đường bộ (Điều 270); Tội không tôn trọng tòa án (Điều 404);... Nên có đối chiếu các quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt đối với các hành vi vi phạm này phạm, hậu quả, mức răn đe, ...có còn phù hợp không để có cơ sở nâng thành tội danh. Không nên quy định tội chiếm đoạt cây giống cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc cây giống các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 248), vì hành vi chiếm đoạt là nhằm mục đích kiếm lợi từ việc lưu thông, mua bán…vậy thì đã có tội danh đó rồi. Dự thảo chỉ quy định Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sỹ (Điều 433), còn di vật của liệt sĩ…thì sao? Vì lẽ gì lại bổ sung tội không tôn trọng Tòa án (Điều 404)? Hệ thống các cơ quan Nhà nước ta gồm: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Tòa án chỉ là một đơn nguyên trong đó. Nếu quy định hành vi không tôn trọng Tòa án là tội phạm thì hành vi không tôn trọng các cơ quan khác của Nhà nước có phải là tội phạm không? Về tội vắng mặt trái phép (Điều 416), có thể suy luận rằng: Vắng mặt trái phép nội hàm rất rộng. Vậy giới hạn để định tội danh này thế nào cho phù hợp? Và tên tội danh cũng không thể viết gọn lỏn là: "Tội vắng mặt trái phép". Ban soạn thảo cũng nên suy xét có nên đưa vào BLHS tội này không?!

Loại ý kiến thứ ba: Ngoài việc đồng tình đưa vào Dự thảo BLHS 37 tội danh trên, còn đề nghị: Nước ta đã và đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, mở rộng các quan hệ hợp tác đầu tư, sản xuất kinh doanh có đối tác nước ngoài…trên thực tế có vụ việc xảy ra hậu quả rất xấu, rất nghiêm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến các quan hệ xã hội khác trên đất nước Việt Nam… Các hành vi của các tác nhân nước ngoài có đủ các dấu hiệu về hình sự. Vì vậy Dự thảo BLHS cũng cần có thêm tội danh để xử lý đối với các tác nhân này. Đặc biệt có ý kiến cho rằng mặc dù đã có Luật phòng, chống tham nhũng, lãng phí nhưng tình hình lãng phí trong thời gian qua đã và đang diễn ra rất nghiêm trọng, đó là: Lãng phí về sử dụng tiền, tài sản công khi đầu tư vào những công trình không hiệu quả; lãng phí về nguồn nhân lực; lãng phí về đất đai; lãng phí về thời gian... gây thiệt hại cho đất nước còn lớn hơn cả tham nhũng nhưng chưa được xử lý nghiêm, chưa thấy có cá nhân nào bị xử lý hình sự về hành vi lãng phí, trách nhiệm ban hành các quyết định gây lãng phí với hậu quả nghiêm trọng. Chính sự không nghiêm minh này đã làm giảm lòng tin của các tầng lớp nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý của Nhà nước. Nhiều ý kiến nêu câu hỏi rất bức xúc, đòi hỏi cần phải có sự phúc đáp rằng: Vì sao chúng ta lại né tránh đưa các hành vi lãng phí trở thành tội danh? Có lẽ đã đến lúc Ban soạn thảo cần xem xét, thấu đáo bổ sung vào dự thảo BLHS những tội danh về lãng phí gây hậu quả nghiêm trong.

Có thể nói ngoài việc công khai xin ý kiến đối với Hiến pháp năm 2013 thì việc công khai xin ý kiến vào Dự thảo BLHS lần này đã và đang được các tầng lớp nhân dân, các cấp, các ngành, các tổ chức rất quan tâm. Vì sao vậy? Đó là sự thể hiện rõ nhất về mong ước một đất bước bình yên để phát triển!

Nguyễn Xuân Diên

Lượt xem: 746

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.