Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Đầu tư công (sửa đổi)

Về tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C (từ Điều 7 đến điều 10), có ý kiến đề nghị không điều chỉnh lên mức 20.000 tỷ đồng mà giữ nguyên mức 10.000 tỷ đồng như Luật cũ đối với quy định về tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia. Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo quy định mức vốn đầu tư của các dự án quan trọng quốc gia tăng thêm 50% so với quy định hiện hành, lên 15.000 tỷ đồng, tương tự đối với các dự án nhóm A, B, C, đề nghị mức tăng 50% so với quy định hiện hành.

Thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, chuẩn bị cho kỳ họp thứ Bảy, Quốc hội khóa XIV, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đã tổ chức lấy ý kiến và tổng hợp đóng góp vào dự thảo Luật Đầu tư công (sửa đổi).

Về phạm vi sửa đổi và tên gọi của Luật, có ý kiến đề nghị cần rà soát, đánh giá kỹ lưỡng, đầy đủ các vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện ở cả Trung ương và địa phương, đồng thời tổ chức đánh giá tác động một cách chu đáo, đầy đủ, toàn diện những chính sách dự kiến để những nội dung được đưa vào dự án luật phục vụ cho việc sửa đổi phải tháo gỡ được các khó khăn, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm chất lượng của văn bản. Có ý kiến cho rằng nên tập trung vào sửa đổi một số nội dung có nhiều bất cập nhất trong quá trình tổ chức thực hiện vừa qua để bảo đảm chất lượng của văn bản. Với phạm vi sửa đổi như trên đề nghị lấy tên là “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công”.

Về áp dụng Luật Đầu tư công, Khoản 1 Điều 3: Có ý kiến cho rằng, để phù hợp với quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đề nghị sửa lại khoản 1 dự thảo như sau: "1. Việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, hoạt động đầu tư công phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Trường hợp luật ban hành sau ngày Luật đầu tư công (sửa đổi) có hiệu lực quy định khác về đầu tư công thì áp dụng quy định của luật ban hành sau”. 

Về đối tượng đầu tư công (Điều 5), có ý kiến đề nghị Cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định tại Khoản 5 Điều 5 Dự thảo Luật về đối tượng đầu tư công là: xây dựng hạ tầng kỹ thuật, xây dựng nhà tái định cư.

Về tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C (từ Điều 7 đến điều 10), có ý kiến đề nghị không điều chỉnh lên mức 20.000 tỷ đồng mà giữ nguyên mức 10.000 tỷ đồng như Luật cũ đối với quy định về tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia. Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo quy định mức vốn đầu tư của các dự án quan trọng quốc gia tăng thêm 50% so với quy định hiện hành, lên 15.000 tỷ đồng, tương tự đối với các dự án nhóm A, B, C, đề nghị mức tăng 50% so với quy định hiện hành. Có ý kiến cho rằng, đề nghị bổ sung vào dự thảo tiêu chí phân loại dự án đầu tư công quy định từ Điều 7 đến Điều 10: dự án giải phóng mặt bằng để phục vụ đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu để lựa chọn nhà đầu tư.

Về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư cho công trình, dự án (Điều 17), Khoản 7: Có ý kiến đề nghị Cơ quan soạn thảo nghiên cứu, điều chỉnh quy định “b, Trường hợp chương trình đầu tư công sử dụng nhiều nguồn vốn thuộc các cấp quản lý khác nhau, Hội đồng nhân dân cấp có vốn thuộc cấp mình quản lý (bao gồm vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên) quyết định chủ trương đầu tư chương trình”. Khoản 8: Có ý kiến đề nghị Cơ quan soạn nghiên cứu quy định “b, Trường hợp dự án sử dụng nhiều nguồn vốn thuộc các cấp quản lý khác nhau, Ủy ban nhân dân cấp có vốn thuộc cấp mình quản lý (bao gồm vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên) quyết định chủ trương đầu tư dự án.

Trường hợp đặc thù (thực tế đã triển khai tại Hà Nội thời gian qua), dự án thuộc cấp Thành phố quản lý theo phân cấp nhưng một số quận đề xuất bỏ vốn đầu tư (nhất là trong lĩnh vực hạ tầng giao thông): quy định như dự thảo thì cấp quận sẽ phê duyệt chủ trương đầu tư dự án cấp Thành phố quản lý do cấp quận bỏ vốn đầu tư dự án như vậy sẽ không phù hợp với quy định tại Điểm a Khoản 8 Điều này đó là: ‘‘Ủy ban nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư dự án thuộc cấp mình quản lý...”. Liên quan đến nội dung này, đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu sửa quy định tại Khoản 2 Điều 27 của Dự thảo Luật theo hướng nhất quán xác định thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư dự án theo phân cấp quản lý.

Về điều kiện quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án (Điều 18), Điểm c Khoản 6: Có ý kiến đề nghị cần quy định rõ tiêu chí cụ thể như thế nào là Dự án đầu tư công khẩn cấp? Ai là người quyết định đưa dự án vào đối tượng dự án đầu tư công khẩn cấp? Dự thảo làm rõ quy định này, tránh trường hợp “lách” luật để “miễn trừ” phê duyệt chủ trương đầu tư và không ai chịu trách nhiệm đối với dự án thuộc đối tượng này nếu có sai phạm. Điểm d Khoản 6: Đề nghị Cơ quan soạn thảo nghiên cứu không lược bỏ cụm từ “chương trình đầu tư công đã được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư toàn bộ chương trình” để cải cách thủ tục hành chính như đối với các dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia.

Về trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư dự án (Điều 24, 27), có ý kiến đề nghị bổ sung thêm đối tượng tổ chức lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, lập báo cáo đề xuất chủ trương vì ngoài cơ quan chuyên môn cấp tỉnh (là các sở chuyên ngành) còn có các Ban quản lý dự án trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhưng không phải là cơ quan chuyên môn có khả năng thực hiện nhiệm vụ nêu trên (thực tiễn triển khai của thành phố Hà Nội thời gian qua, Ủy ban nhân dân Thành phố chủ yếu giao cho các Ban quản lý đầu tư xây dựng công trình chuyên ngành Thành phố đối với các dự án cấp Thành phố).

Về thẩm quyền quyết định đầu tư chương trình, dự án (Điều 36), có ý kiến đề nghị Cơ quan soạn thảo nghiên cứu điều chỉnh theo hướng nhất quán xác định thẩm quyền theo phân cấp. (hiện tại trong dự thảo tại Điểm b Khoản 3 xác định thẩm quyền theo phân cấp quản lý, song Điểm c Khoản 3 và Khoản 4 Điều này lại xác định thẩm quyền theo nguồn vốn). Như vậy, trong trường hợp dự án cấp tỉnh quản lý nhưng sử dụng toàn bộ nguồn vốn ngân sách cấp huyện để đầu tư thì quy định như trong dự thảo sẽ có 2 Người có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư nhóm B, nhóm C là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Thưòng trực Hội đồng nhân dân (Điều 88), có ý kiến đề nghị Cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cùng cấp giữa 2 kỳ họp để xử lý phê duyệt điều chỉnh kế hoạch vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn hoặc hàng năm báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp tại kỳ họp gần nhất để đảm bảo phù hợp với Luật Ngân sách nhà nước và linh hoạt trong điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị các dự án giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng kỹ thuật tạo quỹ đất sạch đấu giá quyền sử dụng đất có tính chất đặc thù do “tính chất hoàn vốn” trực tiếp từ dự án (kinh phí ngân sách đầu tư dự án được thu hồi từ nguồn thu đấu giá, phần chênh lệch tạo nguồn thu ngân sách cho địa phương (thời gian qua thành phố Hà Nội sử dụng Quỹ phát triển đất của Thành phố để ứng vốn cho các dự án giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất đấu giá); mặt khác trong nhiều trường hợp quy mô khu đất nhỏ lẻ (đất xen kẹt, có diện tích vài trăm m2). Do vậy đề nghị Cơ quan soạn thảo nghiên cứu Luật (sửa đổi) có quy định giao Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự thủ tục và kế hoạch trung hạn, hàng năm đối với nhóm dự án đặc thù này.

Toàn văn tổng hợp mời xem tại file đính kèm

Lượt xem: 1478

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.