Các Phó Trưởng đoàn ĐBQH TP Hà Nội đóng góp nhiều ý kiến về dự thảo Luật Tổ chức Quốc hội

Về làm luật và sửa đổi luật (Điều 5): Đại biểu Chu Sơn Hà, Phó Trưởng đoàn ĐBQH TP Hà Nội phát biểu: “Khi biểu quyết thông qua luật tôi đề nghị cần phải biểu quyết thông qua một số điều luật còn có nhiều ý kiến khác nhau, hiện nay chúng ta đang làm việc này, nhưng trong dự thảo Luật chưa đề cập đến vấn đề ai sẽ quyết định số lượng là bao nhiêu điều sẽ được biểu quyết trước khi biểu quyết toàn văn và nội dung nào sẽ được biểu quyết?...”

Ngày 22-10 Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường về công tác xây dựng luật.

Quốc hội nghe Tờ trình, Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi). Theo đó Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường nhất trí với Tờ trình của Chính phủ về sự cần thiết ban hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất để điều phối, phối hợp các hoạt động quản lý, khai thác, sử dụng, quản lý tổng hợp và thống nhất hoạt động điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên môi trường biển và hải đảo… Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo khắc phục tình trạng xung đột trong khai thác, sử dụng tài nguyên; nâng cao hiệu quả công tác quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường biển và hải đảo; góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý quan trọng thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển. Tuy nhiên phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật chưa được thể hiện rõ ràng, do đó Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị Ban soạn thảo rà soát, chỉnh sửa lại quy định về phạm vi điều chỉnh để tránh chồng chéo và tạo điều kiện thuận lợi cho áp dụng trong tình hình thực tiễn.

Về dự án Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi), báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật tán thành sự cần thiết phải sửa đổi cơ bản, toàn diện Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm cụ thể hoá quy định mới của Hiến pháp liên quan đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thi hành Luật, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện cần thiết cho hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời gian tới. Về cơ bản, Ủy ban pháp luật tán thành với nội dung của dự thảo Luật và cho rằng, để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục phát huy và nâng cao vai trò, trách nhiệm cần tiếp tục nghiên cứu để quy định cụ thể hơn cơ chế để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia hoạt động, nhất là hoạt động giám sát, phản biện xã hội; quy định rõ trách nhiệm, mối quan hệ công tác giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các thành viên của Mặt trận; phân định rõ phạm vi điều chỉnh của Luật này với các luật chuyên ngành có liên quan; xác định rõ những nội dung cần quy định trong Luật, những nội dung quy định trong Điều lệ.

Đại biểu Chu Sơn Hà phát biểu tại hội trường về dự án Luật Tổ chức Quốc hội

Quốc hội đã dành thời gian để thảo luận vào dự thảo Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi). Tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII, sau khi chỉnh lý, Dự thảo Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi) có 7 chương 102 điều, tăng 1 chương và giảm 10 điều so với Dự thảo trước đây. Trong phiên thảo luận, nhiều đại biểu đề nghị dự thảo Luật cần bổ sung các biện pháp đổi mới hơn nữa hoạt động của Quốc hội theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và góp phần khắc phục những tồn tại hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội thời gian qua.

Nhiều đại biểu đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục sửa một số điều trong dự thảo Luật để sau khi ban hành, luật góp phần nâng cao vị thế vai trò của Quốc hội trong hệ thống chính trị, đáp ứng được lòng mong đợi của cử tri . Về quyền quyết định một số vấn đề quan trọng của đất nước, một số đại biểu cho rằng, dự thảo Luật lần này được sửa đổi theo hướng tăng cường vai trò của Quốc hội về ngân sách Nhà nước nhưng chưa thực sự căn bản, qua đó đề nghị cần đổi mới các quy định về thẩm quyền quyết định ngân sách Nhà nước của Quốc hội để cơ quan đại diện của người dân thực sự là chủ nhân phân bổ đồng tiền do người dân đóng thuế. Muốn vậy, việc trình dự toán phân bổ ngân sách hàng năm ra Quốc hội phải kèm theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, thuyết minh phản ánh những ưu tiên của quốc gia trong lĩnh vực đó.

Về làm luật và sửa đổi luật (Điều 5): Đại biểu Chu Sơn Hà, Phó Trưởng đoàn ĐBQH TP Hà Nội phát biểu: “Khi biểu quyết thông qua luật tôi đề nghị cần phải biểu quyết thông qua một số điều luật còn có nhiều ý kiến khác nhau, hiện nay chúng ta đang làm việc này, nhưng trong dự thảo Luật chưa đề cập đến vấn đề ai sẽ quyết định số lượng là bao nhiêu điều sẽ được biểu quyết trước khi biểu quyết toàn văn và nội dung nào sẽ được biểu quyết? Hiện nay Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đang quyết định vấn đề này, tôi cho rằng nhiệm vụ quyền hạn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nên quyết định những việc giữa 2 kỳ họp Quốc hội diễn ra, còn những  nội dung liên quan đến làm luật và sửa đổi luật trong kỳ họp Quốc hội do Quốc hội  quyết định”. Đề nghị bổ sung một khoản: “4.Quốc hội quyết định số lượng và nội dung cần phải biểu quyết, các điều phải biểu quyết trước khi biểu quyết toàn văn dự án luật thông qua trên cơ sở căn cứ kết quả lấy phiếu xin ý kiến các ĐBQH tại kỳ họp.”

Về số lượng đại biểu Quốc hội (Điều 23), đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hà, Phó Trưởng đoàn ĐBQH TP Hà Nội: “ Đồng tình với giải trình của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tại Báo cáo 752 ngày 18/10/2014  về việc quy định số lượng ĐBQH hoạt động chuyên trách ít nhất 35% tổng số ĐBQH để phù hợp với điều kiện thực tế của Quốc hội nước ta và đây là tỷ lệ yêu cầu tối thiểu, còn tỷ lệ cụ thể ĐBQH hoạt động chuyên trách ở trung ương hay ở địa phương thì tùy thuộc vào yêu cầu công tác thực tế  hoạt động của Quốc hội, đề nghị bổ sung quy định  về điều kiện bắt buộc của ĐBQH hoạt động chuyên trách là phải có trình độ chuyên môn nhất định, có thâm niên hoạt động hoặc công tác trước khi là đại biểu Quốc hội và tham gia ĐBQH ít nhất 1 nhiệm kỳ để có kỹ năng hoạt động thì mới làm ĐBQH chuyên trách”.

Tại khoản 2 Điều này đại biểu Chu Sơn Hà đồng tình quy định số lượng ĐBQH chuyên trách ít nhất 35 % tổng số ĐBQH, tuy nhiên đề nghị: “thêm một điều kiện phải quy định tỷ lệ đại biểu chuyên trách không phải là cán bộ công chức hoặc viên chức, để tăng cường thêm bản lĩnh của ĐBQH.”

Về quyền trình dự án luật, pháp lệnh và kiến nghị về luật, pháp lệnh (Điều 29), Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hà đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định cụ thể ai tư vấn và cơ quan nào hỗ trợ cho ĐBQH trong việc lập, hoàn thiện hồ sơ về dự án luật, pháp lệnh trước Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; bổ sung quy định quyền kiến nghị trực tiếp của ĐBQH vào Điều 33;

Về Đoàn ĐBQH (Điều 43), Đại biểu Hồng Hà “chưa đồng tình với giải trình tại báo cáo số 752 ngày 18/10/2014 mục 2 điểm h về địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH, Điều 43 của dự thảo chưa thể hiện rõ hơn vị trí của Đoàn ĐBQH là tổ chức của các ĐBQH được bầu tại một tỉnh hoặc một thành phố trực thuộc trung ương, chưa rõ tổ chức này có thuộc hệ thống chính trị của tỉnh, thành phố hay thuộc các cơ quan của Quốc hội hay không, thực tế cho thấy hoạt động của các Đoàn ĐBQH ở địa phương đã góp phần quan trọng cho các ĐBQH hoạt động, đã thực hiện tốt và thực hiện đầy đủ các yêu cầu nhiệm vụ mà Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội đã giao cho như ý kiến của nhiều đại biểu đã phân tích cũng như  đánh giá hàng năm”.

Đại biểu Sơn Hà đề nghị viết lại Điều 43 như sau: “Đoàn ĐBQH phải có văn phòng giúp việc, cơ cấu tổ chức chức năng nhiệm vụ của văn phòng Đoàn ĐBQH do Uỷ ban Thường vụ Quốc hộ quyết định; Đoàn ĐBQH được ban hành các văn bản theo quy định của pháp luật”  vì nhiều Đoàn ĐBQH trong quá trình hoạt động đã ban hành các văn bản nhưng vì chưa có văn bản nào quy định Đoàn ĐBQH có quyền ban hành các quyết định, kế hoạch.

Hai vị Phó Trưởng đoàn ĐBQH TP Hà Nội cũng đã cho ý kiến cụ thể vào các điều khoản trong dự thảo Luật và mong muốn Ban soạn thảo chỉnh sửa, hoàn thiện và luật sẽ được thông qua tại kỳ họp này.

HOÀI THƯƠNG

Lượt xem: 419

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.