Các ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Căn cước công dân và Luật Kinh doanh BĐS

Ngày 4/9, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổ chức họp lấy ý kiến đóng góp vào 2 dự thảo Luật Căn cước công dân và Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi). Đồng chí Chu Sơn Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì Hội nghị.

Ngày 4/9, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổ chức họp lấy ý kiến đóng góp vào 2 dự thảo Luật Căn cước công dân và Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi). Đồng chí Chu Sơn Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì Hội nghị.

Dự thảo Luật Căn cước công dân gồm 7 Chương 42 điều, quy định về căn cước công dân và cơ sở dữ liệu căn cước công dân; việc cấp, quản lý, sử dụng giấy tờ về căn cước công dân; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến căn cước công dân; bảo đảm điều kiện cho hoạt động quản lý công dân;

Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) bao gồm 5 Chương, 80 điều, quy định về hoạt động kinh doanh bất động sản; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bất động sản.

Phó Trưởng đoàn ĐBQH Chu Sơn Hà tiếp thu các ý kiến đóng góp

Góp ý vào dự thảo Luật Căn cước công dân:  Đa số ý kiến đại biểu đề nghị nên giữ nguyên tên gọi “Giấy chứng minh nhân dân” vì cho rằng tên gọi này đã quen thuộc với người dân gần 40 năm qua và tất cả giấy tờ hành chính, hệ thống sổ sách theo dõi, phần mềm quản lý đều ghi số Chứng minh nhân dân, nếu thay đổi tên gọi thành “Căn cước công dân”sẽ phải thay đổi  rất nhiều giấy tờ hành chính như sổ đỏ, bằng cấp, giấy chứng nhận trong hệ thống giáo dục, giấy phép, chứng chỉ trong ngành giao thông, bảo hiểm y tế, số hộ khẩu… sẽ tác động đến từng người từng hộ gia đình trong cả nước, sẽ làm phức tạp xã hội, lãng phí tiền của. Một số ý kiến đề nghị bổ sung một chương quy định về thanh tra, khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm để bảo đảm đúng cấu trúc một văn bản pháp luật; nên dùng căn cước công dân cho người đủ 14 tuổi vì dưới 14 tuổi đã có giấy khai sinh; làm rõ mối quan hệ giữa cơ sở dữ liệu căn cước công dân với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư... Có ý kiến đề nghị bổ sung vào Khoản 8, Điều 6 quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý căn cước công dân trong việc thu hồi, tạm giữ, chậm làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ căn cước, cung cấp thông tin sai lệch vào cơ sở dữ liệu căn cước hoặc làm lộ thông tin căn cước… để bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý cũng như của người dân trong công tác xây dựng và bảo vệ thông tin căn cước;tại Điểm e, Khoản 1, Điều 23 bổ sung cụm từ “khi có lý do chính đáng” vào cuối câu vì tránh trường hợp nhiều người dân không cần thiết nhưng vẫn yêu cầu đổi, mất thời gian cho cơ quan Nhà nước và lãng phí về kinh tế.

Góp ý vào dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi): Đa số ý kiến thống nhất sự cần thiết sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản nhằm góp phần minh bạch thị trường bất động sản, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư kinh doanh bất động sản. Có ý kiến đề nghị mở rộng phạm vi kinh doanh bất động sản cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài. Một số ý kiến đề nghị cần quy định chế tài cần thiết để bắt buộc chủ đầu tư sử dụng vốn huy động của khách hàng đúng mục đích để hoàn thành dự án bàn giao cho khách hàng; thống nhất việc quy định nội dung cấp giấy chứng nhận đầu tư bảo đảm sự thống nhất trong các luật và cần có giải pháp để đơn giản hóa các thủ tục hành chính cho các chủ đầu tư.

Góp ý vào Điều 5 quy định về các loại nhà đưa vào kinh doanh, đại diện Sở Tư pháp Thành phố đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu xem lại thuật ngữ “sở hữu toàn dân” quy định tại Khoản 3 vì theo quy định của Bộ luật Dân sự thì đất đai, bất động sản là một trong những loại tài sản thuộc sở hữu nhà nước và chỉ có cá nhân, pháp nhân mới có đủ 3 quyền năng là “sở hữu, sử dụng, định đoạt”, “toàn dân” là một khái niệm chung chung không phải một cá nhân hoặc một pháp nhân cụ thể. Mặt khác các quy định hiện hành về quản lý nhà ở (Nghị định 34/2013/NĐ-CP của Chính phủ) cũng xác định rõ hình thức sở hữu nhà thuộc sở hữu nhà nước. Đề nghị thay cụm từ “sở hữu toàn dân”  bằng cụm từ     “sở hữu nhà nước” cho phù hợp với các quy định của pháp luật có liên quan. Tại Khoản 3, Điều 13 ngoài đối tượng nhà ở xã hội, có ý kiến đề nghị bổ sung quy định Nhà nước có những chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với việc xây dựng nhà tái định cư vì đây cũng là đối tượng đang được pháp luật quy định cho hưởng những chính sách khuyến khích trong đầu tư xây dựng, mua bán, cho thuê; tại Điều 20 bổ sung quy định cấm bên tham gia liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh, góp vốn với chủ đầu tư dự án bất động sản huy động vốn từ bên thứ 3 có kèm theo quyền mua nhà, công trình xây dựng được hình thành trong tương lai; tại Điều 17 bổ sung cụm từ “cho thuê lại” vào sau cụm từ “thuê mua”… cho đủ các đối tượng dự thảo Luật đã đề cập; Khoản 8, Điều 20 bổ sung thêm quy định về thu hồi các chứng chỉ hành nghề trái pháp luật; Điểm 1, Điều 65 nên quy định thành “Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản nếu có nhu cầu thì được thuê sàn giao dịch bất động sản của tổ chức, cá nhân khác để phục vụ cho việc kinh doanh bất động sản  của mình…”. Kết thúc hội nghị, thay mặt Đoàn ĐBQH Thành phố đồng chí Chu Sơn Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH Thành phố tiếp thu ý kiến đóng góp của các đại biểu và khẳng định Đoàn ĐBQH Thành phố sẽ tổng hợp báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghiên cứu tiếp thu, chỉnh sửa để 2 dự thảo Luật sẽ được thông qua trong kỳ họp thứ Tám, Quốc hội khóa XIII. 

HOÀI THƯƠNG

Lượt xem: 383

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.