Cần hỗ trợ hộ kinh doanh cá thể chuyển sang loại hình doanh nghiệp

Cần có chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh cá thể chuyển sang loại hình doanh nghiệp thì mới đạt được mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030.

Cần có chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh cá thể chuyển sang loại hình doanh nghiệp thì mới đạt được mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030.

Sáng 16-5, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách phát triển kinh tế tư nhân.


Quang cảnh phiên họp sáng 16-5. Ảnh: media.quochoi.vn

Bảo đảm các ưu đãi về thuế, hạ tầng

Thảo luận tại phiên họp, các đại biểu Quốc hội nhận định, cử tri, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TƯ về phát triển kinh tế tư nhân. Ngay trong kỳ họp này, Quốc hội đã thảo luận và xem xét thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng, nhất là Nghị quyết số 68-NQ/TƯ của Bộ Chính trị.

Các đại biểu bày tỏ sự đồng tình, nhất trí cao với dự thảo nghị quyết đã quán triệt yêu cầu đổi mới tư duy, nhận thức về kinh tế tư nhân; có các quy định cụ thể về cơ chế, chính sách mang tính đặc biệt để phát triển kinh tế tư nhân; thực sự là những quy định mang tính “cởi trói”, được cử tri, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp rất mong đợi.

Góp ý thêm vào dự thảo Nghị quyết, đại biểu Trần Hoàng Ngân (Đoàn thành phố Hồ Chí Minh) cho biết, hiện nay mục tiêu nước ta hướng đến có 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, để đạt kế hoạch này phải có giải pháp rất đặc biệt. “Bởi vì hiện nay mỗi năm bình quân chúng ta chỉ tăng 30-40 nghìn doanh nghiệp. Vậy làm sao 5 năm có thể tăng lên 2 triệu? Cần phải có chính sách hỗ trợ cho hộ kinh doanh cá thể để chuyển sang loại hình doanh nghiệp thì lúc đó mục tiêu mới có thể đạt được; đồng thời phải nâng cao, mở rộng thêm những doanh nghiệp có quy mô lớn”, đại biểu nói.


Đại biểu Trần Thị Vân (Đoàn Bắc Ninh) phát biểu thảo luận. Ảnh: media.quochoi.vn

Đề nghị miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong 3 năm kể từ khi doanh nghiệp phát sinh lợi nhuận thay vì kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu, đại biểu Trần Thị Vân (Đoàn Bắc Ninh) cho rằng, doanh nghiệp thường không có lợi nhuận ngay sau khi mới thành lập.

“Giai đoạn đầu là thời kỳ tập trung đầu tư xây dựng, tuyển dụng, nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm. Nếu chúng ta miễn thuế ngay từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đồng nghĩa với việc khi doanh nghiệp có lãi thì thời gian miễn thuế đã hết - chính sách miễn thuế trở nên hình thức và không có hiệu quả. Vì vậy, chúng ta cần miễn thuế đúng thời điểm doanh nghiệp có khả năng đóng thuế đó là khi họ có lợi nhuận”, đại biểu Trần Thị Vân nói.

Đại biểu Mai Văn Hải (Đoàn Thanh Hóa) đề nghị nên quy định một số tỉnh, thành phố có quy hoạch các khu công nghiệp, cụm công nghiệp được Nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và ưu tiên cho các doanh nghiệp công nghệ thuộc khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng thuê lại đất; thay vì quy định chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ được hỗ trợ đầu tư phải dành một phần diện tích đất đã đầu tư hạ tầng cho doanh nghiệp công nghệ cao thuộc lĩnh vực kinh tế kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê lại.


Đại biểu Tạ Văn Hạ (Đoàn Quảng Nam) thảo luận. Ảnh: media.quochoi.vn

Đưa tài sản trong các vụ án vào sản xuất, kinh doanh

Về vấn đề bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội, không áp dụng quy định hồi tố đối với doanh nghiệp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử của dự thảo Nghị quyết, đại biểu Tạ Văn Hạ (Đoàn Quảng Nam) cho rằng, quy định này đã được Hiến pháp quy định người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh. Đại biểu cho rằng đây không phải là cơ chế đặc biệt để cho doanh nghiệp, do đó cần cân nhắc không bổ sung nội dung này trong dự thảo.

Đại biểu Nguyễn Thị Thủy (Đoàn Bắc Kạn) đề nghị Chính phủ báo cáo Quốc hội cho phép được áp dụng thí điểm Nghị quyết số 164/2024/QH15 của Quốc hội về thí điểm xử lý vật chứng, tài sản trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một số vụ việc, vụ án hình sự đối với các vụ án thuộc diện Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chỉ đạo. Chính phủ báo cáo Quốc hội cho phép được áp dụng đối với Nghị quyết đặc thù về kinh tế tư nhân vì trong đó có những biện pháp cho phép doanh nghiệp được đặt tiền bảo đảm vào để giải tỏa tài sản bị phong tỏa, tiếp tục đưa vào kinh doanh.

Bên cạnh đó, cho phép chủ sở hữu doanh nghiệp được được quản lý, sử dụng, khai thác tiếp tài sản đó và bảo đảm việc khai thác đúng quy định, thay vì hiện nay bị “đóng băng”, không đưa được vào nền kinh tế.


Đại biểu Nguyễn Anh Trí (Đoàn Hà Nội) phát biểu tại phiên họp. Ảnh: media.quochoi.vn

Cùng quan tâm về nguyên tắc xử lý các sai phạm và giải quyết các vụ việc trong hoạt động kinh doanh, đại biểu Nguyễn Anh Trí (Đoàn Hà Nội) đề nghị cần làm rõ hơn và giải quyết thật nghiêm nhưng không để làm ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh, không gây đình trệ và chấm dứt việc cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp tư nhân đó, không “dễ dãi” gắn mác tang vật vụ án trên công cụ sản xuất, máy móc, thiết bị của doanh nghiệp, nếu có thì phải nhanh chóng giải quyết để sớm đưa vật tư, thiết bị, máy móc vào hoạt động sản xuất.

Bày tỏ nhất trí với chủ trương chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đặc biệt trong quản lý điều kiện kinh doanh, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Dương) cho rằng, nếu không có cơ chế hậu kiểm đủ mạnh, minh bạch và hiệu quả thì chính sách này rất dễ trở thành kẽ hở để các “công ty ma” lợi dụng.

“Thực tế đã cho thấy, nhiều đối tượng đã lợi dụng chính sách thông thoáng để lập ra hàng trăm công ty không hoạt động thực tế, mua bán hóa đơn, trốn thuế, rửa tiền, gây thất thu ngân sách và làm méo mó môi trường cạnh tranh”, đại biểu nói và đề nghị bổ sung rõ các yêu cầu cụ thể đối với hệ thống hậu kiểm; quy định rõ các ngành, lĩnh vực buộc phải tiền kiểm để tránh áp dụng tràn lan hoặc lỏng lẻo.


Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng phát biểu. Ảnh: PV

Trên cơ sở các ý kiến phát biểu của đại biểu Quốc hội tại phiên thảo luận tổ và phiên thảo luận hội trường, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết sẽ phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội để nghiên cứu tiếp thu và hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, bảo đảm Nghị quyết khả thi trong thực tiễn và thống nhất với pháp luật hiện hành.

Lượt xem: 34

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.