Cần mở rộng phạm vi trưng cầu ý dân quy mô địa phương và bổ sung Đoàn Chủ tịch Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam có quyền đề nghị trưng cầu ý dân

Trong điều kiện chúng ta đang phấn đấu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì việc phát huy dân chủ, huy động trí tuệ và tạo điều kiện cho nhân dân được tham gia quyết định các chính sách, quyết sách lớn của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt lý luận cũng như về hiệu quả thực hiện pháp luật. Vì vậy, việc xây dựng Luật Trưng cầu ý dân ở nước ta với mục tiêu thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 là cần thiết và đúng đắn.

“Trưng cầu ý dân” là hình thức dân chủ tiến bộ đã xuất hiện và được ghi nhận từ lâu trong lịch sử. Về bản chất, nhân dân lập ra và trao quyền cho các cơ quan nhà nước để thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhằm quản lý xã hội. Một mặt, các cơ quan này phải chịu sự giám sát của nhân dân và mặt khác, chỉ được thực hiện quyền lực trong giới hạn cho phép. Trong nhiều trường hợp, nhà nước không được quyết định mà để nhân dân trực tiếp quyết định. Một trong các cách mà nhân dân trực tiếp quyết định là thông qua trưng cầu ý dân.

Trưng cầu ý dân là một hình thức quan trọng trong việc thực hiện dân chủ trực tiếp của nhân dân, là hình thức biểu hiện đỉnh cao của nền dân chủ. Thông qua hình thức dân chủ này, người dân được trực tiếp tham gia vào việc hoạch định các chính sách, quyết sách lớn của đất nước, tham gia quản lý nhà nước. Ngày nay, trên thế giới, nhiều nước đã và đang sử dụng hình thức này như là một phương thức hữu hiệu trong hoạt động quản lý, điều hành đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Tại Việt Nam, mặc dù trưng cầu ý dân đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp nhưng cho đến nay vẫn chưa được cụ thể hóa thành luật. Do vậy, chúng ta chưa có thực tiễn về trưng cầu ý dân. Trong điều kiện chúng ta đang phấn đấu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì việc phát huy dân chủ, huy động trí tuệ và tạo điều kiện cho nhân dân được tham gia quyết định các chính sách, quyết sách lớn của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt lý luận cũng như về hiệu quả thực hiện pháp luật. Vì vậy, việc xây dựng Luật Trưng cầu ý dân ở nước ta với mục tiêu thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 là cần thiết và đúng đắn.

Về phạm vi trưng cầu ý dân, Điều 7 Dự thảo quy định: “Trưng cầu ý dân được thực hiện trên phạm vi cả nước”. Vấn đề này nên có sự cân nhắc mở rộng cả quy định đối với phạm vi địa phương, bởi thực tế đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội nước ta cho thấy, các vấn đề mà cuộc sống đặt ra cần phải giải quyết thường phát sinh nhiều ở địa phương. Bên cạnh đó, đặc điểm về xã hội, văn hóa, kinh tế ở các vùng miền có những đặc điểm rất riêng biệt, kéo theo nhưng vấn đề đóng vai trò đặc biệt quan trọng với các địa phương cũng khác nhau. Do đó, nếu không quy định trưng cầu ý dân trong phạm vi địa phương, thì sẽ không giúp giải quyết, tháo gỡ các vấn đề vướng mắc trong đời sống kinh tế - xã hội của địa phương, và như vậy là không đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra. Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng, đặt ra vấn đề trưng cầu ý dân ở cấp địa phương chỉ nên dừng ở cấp tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương để đảm bảo các nội dung trưng cầu không trở nên nhỏ lẻ, mà việc áp dụng biện pháp này tràn lan, gây giảm hiệu quả và tốn kém

Kinh nghiệm Quốc tế trong công tác trưng cầu ý dân cho thấy, rất nhiều quốc gia đã áp dụng hoạt động này ở cả cấp Quốc gia lẫn địa phương. Theo thống kê, tới nay đã có 43 cuộc trưng cầu “cấp tỉnh” ở Canada, Ví dụ, vào năm 1980 và năm 1995, trưng cầu ý dân đã được tổ chức ở Quebec về việc tách ra khỏi Canada; tại Bristish Columbia, gần đây nhất, vào ngày 17/5/2005 đã trưng cầu ý dân về việc thông qua hệ thống bầu cử mới; hay tại Italia, đã có 64 cuộc trưng cầu ý dân cấp quốc gia và 21 cuộc trưng cầu cấp địa phương được tổ chức.

Những vấn đề được đưa ra trưng cầu ý dân được quy định cụ thể tại Điều 6 Dự thảo, theo đó: “Trên cơ sở đề nghị trưng cầu ý dân của cơ quan, người có thẩm quyền, Quốc hội có thể quyết định trưng cầu ý dân những vấn đề sau đây: (1) Hiến pháp; (2) Các vấn đề đặc biệt quan trọng về chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của quốc gia; (3) Các nguyễn tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; (4) Các vấn đề đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội có ảnh hưởng lớn đến quốc kế dân sinh”; (5) Những vấn đề quan trọng khác do Quốc hội quyết định”.

Việc quy định cụ thể từng vấn đề như trên là phù hợp và tạo cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền quyết định việc áp dụng trưng cầu ý dân. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, trong trường hợp quy định tổ chức trưng cầu ý dân ở phạm vi địa phương, cần xác định rõ cả những vấn đề cần đưa ra trưng cầu ý dân ở phạm vi này, đó có thể là: Điều chỉnh địa giới hành chính; việc xây dựng các công trình lớn có nguy cơ ảnh hưởng đến môi sinh của một vùng rộng lớn hoặc chủ trương xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng...  Thực tế tại thủ đô Hà Nội cho thấy, có những đề án có phạm vi thành phố như đề án thay thế, cải tạo 6700 cây xanh đã không nhận được sự đồng thuận của đa phần người dân trong quá trình triển khai, dẫn đến việc xuất hiện những luồng dư luận trái chiều.

Chủ thể có quyền đề nghị trưng cầu ý dân, trên thế giới, tùy theo truyền thống pháp lý và đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà các nước có quy định khác nhau. Ở nhiều nước, thường quy định chỉ một số cơ quan nhà nước nhất định mới có quyền sáng kiến trưng cầu ý dân, ví dụ như Cộng hòa Pháp, Chính phủ và Quốc hội là hai chủ thể có quyền sáng kiến trưng cầu ý dân, khi có sáng kiến trưng cầu ý dân của một trong hai chủ thể này thì buộc Tổng thống phải xem xét và quyết định có nên tổ chức trưng cầu ý dân hay không; ở Armenia, sáng kiến trưng cầu ý dân thuộc về Quốc hội. Ở một số nước khác, lại quy định nhân dân cũng có quyền sáng kiến trưng cầu ý dân, chẳng hạn như là Thụy Sĩ, pháp luật nước này quy định nếu người dân muốn tổ chức trưng cầu ý dân về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp liên bang cần phải thu thập đủ chữ ký của 100.000 cử tri trong thời gian là 18 tháng; còn ở Italia, người dân muốn tổ chức trưng cầu ý dân thì phải thu thập được chữ ký ủng hộ của 500.000 cử tri.

Khoản 1 Điều 13 Dự thảo quy định “Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc ít nhất là một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định việc trưng cầu ý dân”. Tuy nhiên, cần mở rộng thêm chủ thể có quyền đề nghị trưng cầu ý dân, ngoài Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, cần bổ sung thêm Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quyền đề nghị trưng cầu ý dân. Ý kiến đề nghị trưng cầu ý dân sẽ được Quốc hội xem xét, quyết định.  Trong bối cảnh nước ta, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị, đại diện cho đông đảo quần chúng nhân dân, bởi vậy, cần tạo cơ sở pháp lý để trong trường hợp thấy cần thiết thì Mặt trận Tổ quốc cũng có thể trình kiến nghị về trưng cầu ý dân để Quốc hội xem xét, quyết định.

HOÀNG THẠCH TÂM – Chủ tịch UBND phường Hàng Bạc

Lượt xem: 482

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.