Cho ý kiến về dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước: Bảo đảm sử dụng tài sản công đúng mục đích, thiết thực vì lợi ích quốc gia

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng nêu rõ, tài sản nhà nước (TSNN) tại Việt Nam có phạm vi, quy mô rất lớn; là cơ sở vật chất để thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và là nguồn lực quan trọng, bền vững có thể khai thác để phát triển kinh tế- xã hội. Vì vậy, việc xây dựng, ban hành Luật Quản lý, sử dụng TSNN (sửa đổi) hiện nay là cần thiết nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật quản lý, sử dụng TSNN hiện hành; bảo đảm việc đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng và khai thác tài sản công (TSC) hiệu quả, tiết kiệm, đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới về khai thác nguồn lực để phát triển kinh tế- xã hội, thực hành tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng...

Tiếp tục chương trình làm việc phiên họp thứ 3, chiều 15/9, tại Phòng họp Tân Trào- Nhà Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi). Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển điều khiển phiên họp.

 

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng phát biểu tại phiên họp. Ảnh: Đình Nam

Thay mặt Chính phủ trình bày Tờ trình tóm tắt về dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng nêu rõ, tài sản nhà nước (TSNN) tại Việt Nam có phạm vi, quy mô rất lớn; là cơ sở vật chất để thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và là nguồn lực quan trọng, bền vững có thể khai thác để phát triển kinh tế- xã hội. Vì vậy, việc xây dựng, ban hành Luật Quản lý, sử dụng TSNN (sửa đổi) hiện nay là cần thiết nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật quản lý, sử dụng TSNN hiện hành; bảo đảm việc đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng và khai thác tài sản công (TSC) hiệu quả, tiết kiệm, đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới về khai thác nguồn lực để phát triển kinh tế- xã hội, thực hành tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng. Đồng thời nhằm thể chế hóa Điều 53 Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật mới được Quốc hội ban hành có liên quan, tác động trực tiếp tới quản lý, sử dụng TSC.

Về tên gọi của dự án Luật, theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, tên của dự án Luật là “Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi)”. Tuy nhiên, qua rà soát hệ thống pháp luật hiện hành, Chính phủ nhận thấy, Hiến pháp năm 2013 và các luật mới được ban hành để triển khai Hiến pháp năm 2013 đều sử dụng khái niệm tài sản công. Vì vậy, Chính phủ trình Quốc hội cho đổi tên của dự án Luật là “Luật Quản lý, sử dụng tài sản công”.

Về bố cục, dự thảo Luật gồm 10 Chương, 137 Điều, cụ thể: Chương I. Quy định chung gồm 11 Điều; Chương II. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước đối với TSC gồm 8 Điều; Chương III. Quản lý, sử dụng TSC tại cơ quan, tổ chức, đơn vị gồm 51 Điều; Chương IV: Quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng gồm 24 Điều; Chương V: Quản lý, sử dụng TSC tại cơ quan dự trữ nhà nước và doanh nghiệp gồm 6 Điều; Chương VI: Quản lý, sử dụng tài sản của dự án sử dụng vốn nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước gồm 14 Điều; Chương VII: Quản lý và khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên thiên nhiên gồm 13 Điều; Chương VIII: Hệ thống thông tin về TSC và Cơ sở dữ liệu quốc gia về TSC gồm 5 Điều; Chương IX: Dịch vụ về TSC gồm 3 Điều.

Thay mặt Ủy ban Tài chính- Ngân sách trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Đức Hải cho biết, qua xem xét hồ sơ Dự án luật, Thường trực Ủy ban Tài chính- Ngân sách nhận thấy, Ban soạn thảo đã có quá trình chuẩn bị công phu từ khâu tổng kết, đánh giá thực tiễn, rà soát pháp luật, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, xây dựng Dự thảo luật, tổ chức lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến góp ý của các đối tượng có liên quan, đánh giá tác động của Dự án luật. Hồ sơ Dự án luật trình Quốc hội đã đảm bảo tuân thủ các quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Về mục đích, quan điểm sửa đổi Luật, Ủy ban cơ bản thống nhất với mục đích, quan điểm sửa đổi Luật như Tờ trình của Chính phủ, đồng thời nhấn mạnh một số quan điểm như: Khắc phục một cách hiệu quả những tồn tại, hạn chế của pháp luật hiện hành; luật cần quy định bao quát, thống nhất, cụ thể đầy đủ phạm vi, đối tượng, nội dung liên quan đến quản lý, sử dụng các loại tài sản công đã được quy định tại Hiến pháp năm 2013 nhằm đảm bảo tài sản công được quản lý chặt chẽ, hiệu quả; ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm, xâm hại đến tài sản công; bảo đảm sử dụng tài sản công đúng mục đích, thiết thực vì lợi ích quốc gia…

Về tính thống nhất với hệ thống văn bản pháp luật liên quan, để đảm bảo hơn nữa tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Ủy ban đề nghị cần tiếp tục rà soát, hệ thống hóa, pháp điển hóa đầy đủ các quy định của hệ thống pháp luật liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản công ở các luật chuyên ngành, để tiến hành bổ sung sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn.

Về tính cụ thể của Dự thảo Luật, đề nghị Chính phủ cần nghiên cứu để quy định chi tiết tối đa các điều, khoản trong Dự thảo luật, hạn chế các điều giao cho Chính phủ quy định chi tiết. Trường hợp giao cho Chính phủ quy định chi tiết cần chỉ rõ nội dung cụ thể được giao và yêu cầu Chính phủ xây dựng dự thảo Nghị định trình kèm Dự thảo luật.

Thảo luận tại phiên họp, các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội cơ bản nhất trí về sự cần thiết ban hành luật nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện Luật trong thời gian qua. Đồng thời, thể chế hóa Điều 53 Hiến pháp năm 2013 về tài sản công, tạo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật, bảo đảm quản lý chặt chẽ tài sản công, góp phần khai thác và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lực từ tài sản công phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội.

Cần khái quát hơn phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Tại Điều 1 và Điều 2 của Dự thảo luật, phạm vi điều chỉnh quy định về quản lý nhà nước đối với tài sản công; chế độ quản lý, sử dụng tài sản công; quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng tài sản công. Đối tượng áp dụng là cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản công.

Đặt câu hỏi về việc liệu các phần mềm, tần số vô tuyến điện, biển số xe đẹp…có phải tài sản công hay không?, Tổng thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho rằng, đây là các tài sản cũng được đấu thầu, mua sắm bằng vốn nhà nước và cũng có giá trị cao. Tuy nhiên, Dự thảo luật lại chưa đề cập đến các vấn đề này. Do đó đề nghị làm rõ và có thể khái quát bằng cách quy định các tài sản được mua sắm, đầu tư bằng vốn nhà nước thì sẽ đưa vào trong phạm vi điều chỉnh của Dự thảo luật.

Đưa ra một số ví dụ trên thế giới về giá trị phần mềm, Trưởng ban Công tác đại biểu Trần Văn Túy bày tỏ băn khoăn việc xu thế phát triển là nền kinh tế tri thức, giá trị tài sản phần mềm dần dần sẽ lớn, vì vậy nếu Dự thảo luật chỉ quản lý tài sản cứng thì đã đầy đủ chưa? Ngoài ra, các nghiên cứu khoa học của nhà nước có giá trị chuyển giao lớn thì ai sẽ quản lý vấn đề này?.

Đồng tình với ý kiến trên, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng cho rằng, Dự thảo luật nên bổ sung các tài sản hữu hình và tài sản thuộc quyền quản lý hay trong cam kết quốc tế của Nhà nước. Các giá trị tinh thần, văn hóa, lịch sử….hay tài sản dưới hình thức tiền tệ, các quỹ cũng cần được xem xét, bổ sung. Nếu quy định mang tính chất hình thức, quy định khung thì cũng cần được quy định vào trong Dự thảo luật.

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định, Dự thảo luật nên theo hướng quản lý tất cả các loại tài sản công, nếu loại trừ vấn đề nào thì cần có một Điều, khoản quy định rõ. Ngoài ra, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng cũng cần được xây dựng trên 3 nguyên tắc: Thứ nhất, là những quy phạm điều chỉnh chung nhất về quản lý, sử dụng tài sản công. Thứ hai, không quy định chi tiết các vấn đề mà các luật chuyên ngành đã quy định. Thứ ba, quy định chi tiết các vấn đề về quản lý, sử dụng tài sản công nếu các luật chuyên ngành không quy định.

Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho rằng, việc xây dựng Dự án luật “không nên cầu toàn quá”, nếu như quy định hết tất cả các vấn đề liên quan đến tài sản công sẽ dẫn đến tình trạng “sa lầy” và “không thể giải quyết được”, cũng sẽ đụng chạm đến rất nhiều luật. Phó Chủ tịch Uông Chu Lưu đề nghị cần khoanh phạm vi điều chỉnh lại cho phù hợp với tính chất của Dự án luật.

Làm rõ chế độ, quản lý, sử dụng tài sản công tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị

Về tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công, các đại biểu đề nghị Chính phủ cần rà soát, nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung ngay trong Dự thảo luật đối tượng, tiêu chuẩn, định mức trang bị tài sản công như: xe công, trụ sở làm việc, nhà công vụ trên cơ sở tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện các văn bản dưới luật trong thời gian vừa qua để đảm bảo tính cụ thể, minh bạch và thống nhất giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân sử dụng tài sản công.

Về việc khai thác tài sản công do cơ quan nhà nước quản lý, các đại biểu cho rằng, để bảo đảm tính cụ thể của luật, đề nghị làm rõ “các tài sản khác được nhà nước giao cho các cơ quan nhà nước quản lý để khai thác” là tài sản nào. Đồng thời, cần quy định rõ cơ chế kiểm soát việc khai thác tài sản công, đảm bảo đúng mục đích, công năng của tài sản. Có ý kiến đề nghị nên cho phép khai thác các tài sản của Nhà nước theo hình thức kinh doanh dịch vụ, cho thuê trong trường hợp tài sản được trang bị đúng tiêu chuẩn, định mức nhưng không sử dụng thường xuyên để tránh lãng phí, xuống cấp tài sản, tạo nguồn thu để bù đắp các chi phí vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản, đồng thời tiết kiệm các khoản chi từ NSNN.

 

Trưởng ban Dân nguyện Nguyễn Thanh Hải phát biểu tại phiên họp

Theo Trưởng ban Dân nguyện Nguyễn Thanh Hải, cần có sự rà soát, làm rõ tiêu chuẩn, định mức trong việc sử dụng tài sản công ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Việc rà soát, đánh giá phải được thực hiện theo hàng năm và “phù hợp với thực tiễn”. Đối với chế độ quản lý, sử dụng tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập, cần xem xét lại quy định việc sử dụng tài sản phải đúng mục đích, công năng bởi căn cứ vào tình hình thực tế hiện nay, quy định này có phần “rất khó”.

Các đại biểu nhất trí với phương án 2 tại Dự thảo luật, theo đó quy định cụ thể việc quản lý, sử dụng tài sản công tại các cơ quan của Đảng cũng tương tự như các cơ quan nhà nước để đảm bảo tính thống nhất giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu đề nghị cân nhắc, tham khảo thêm các quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008.

Bên cạnh các nội dung trên, các đại biểu cũng đề nghị Chính phủ cần xây dựng một Báo cáo tổng kết thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 thay vì giao cho Bộ Tài chính như hiện nay; đề nghị rà soát lại các nội dung trong Dự thảo luật nhằm đảm bảo tính khả thi, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện nay của nước ta; xem xét lại khái niệm về tài sản công; cụ thể hóa tối đa tiêu chuẩn, định mức trong việc sử dụng tài sản công; bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội đối với tài sản công…

Phát biểu kết luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đề nghị Cơ quan soạn thảo, Ủy ban Tài chính - Ngân sách tiếp thu ý kiến phát biểu của các đại biểu tại phiên họp; xem xét, bổ sung, hoàn chỉnh lại Dự án luật trước khi trình ra Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2 sắp tới.

Theo quochoi.vn

Lượt xem: 585

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.