Cục Thuế TP Hà Nội: Tập trung góp ý kiến các tội danh về thuế trong dự thảo Bộ luật Hình sự

Về nội dung sửa đổi quy định tại Điều 207: Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ. Quy định mức độ nghiêm trọng của tội phạm theo số lượng hóa đơn, phôi số chưa hoàn toàn hợp lí, do mức độ tổn thất, thiệt hại gây ra đối với loại tội phạm này phụ thuộc nhiều vào giá trị ghi trên hóa đơn. Đồng thời cần làm rõ việc cấu thành tội phạm là thực hiện đồng thời hay riêng rẽ các hành vi “in, phát hành, mua bán trái phép”...

Thực hiện các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào dự thảo Bộ luật Hình sự (BLHS), ngày 21/8/2015, Cục Thuế TP Hà Nội đã ban hành Công văn số 54905/CT- PC triển khai lấy ý kiến đối với dự thảo BLHS (sửa đổi) đến toàn bộ cán bộ công chức tại các đơn vị thuộc Cục Thuế TP Hà Nội. Các đơn vị thuộc Cục Thuế đã tổ chức lấy ý kiến cán bộ công chức trong đơn vị dưới nhiều hình thức như tổ chức hội nghị thảo luận trực tiếp, góp ý bằng văn bản... Kết quả các ý kiến đóng góp được gửi về Cục để tổng hợp.

Các ý kiến đánh giá chung khẳng định dự thảo BLHS (sửa đổi) có nhiều tiến bộ và phù hợp vai quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, phù hợp với Hiến pháp năm 2013. Đặc biệt, dự thảo phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hiện nay, khắc phục những bất cập, hạn chế của BLHS hiện hành, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và đảm bảo hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay. Tuy nhiên, tại dự thảo Bộ Luật hình sự còn nhiều từ ngữ mang tính chất định tính, có thể dẫn đến việc áp dụng tùy tiện, không rõ ràng, vì vậy, cần lưu ý rà soát và chỉnh sửa lại cho phù hợp.

Đặc biệt, các ý kiến tham gia đóng góp của cán bộ, công chức Cục Thuế Hà Nội tập trung vào các tội danh thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về thuế, gồm: Tội trốn thuế (Điều 204); Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ (Điều 207); Tội vi pham quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ (Điều 208).

Theo đó, về nội dung quy định tại Điều 204: Tội trốn thuế. Quy định tại khoản 3: Trường hợp phạm tội sẽ bị xử lý phạt tiền (mức như khoản 2) hoặc phạt tù; nhưng sẽ không thực hợp lý vì mức độ phạm tội ở khoản 3 nghiêm trọng hơn nhưng mức phạt lại có thể bằng ở khoản 2. Nội dung tại khoản 4: Chế tài xử lý người phạm tội trốn thuế đã quy định từng trường hợp cụ thể tại các khoản 1, 2, 3; do đó, nội dung có sự trùng lắp và không đồng nhất với nội dung các khoản trên. Nội dung tại khoản 5: Quy định chế tài xử lý đối với pháp nhân phạm tội trốn thuế chỉ xử phạt tiền và tước giấy phép hay cấm huy động vốn không có hiệu quả với doanh nghiệp nhà nước, vì khoản tiền phạt do doanh nghiệp chịu đối với doanh nghiệp nhà nước bản chất chính là nhà nước phải chịu tiền phạt. Đề nghị bổ sung quy định người chịu trách nhiệm về tội trốn thuế của pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự như quy định đối với cá nhân.

Về nội dung sửa đổi quy định tại Điều 207: Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ. Quy định mức độ nghiêm trọng của tội phạm theo số lượng hóa đơn, phôi số chưa hoàn toàn hợp lí, do mức độ tổn thất, thiệt hại gây ra đối với loại tội phạm này phụ thuộc nhiều vào giá trị ghi trên hóa đơn. Đồng thời cần làm rõ việc cấu thành tội phạm là thực hiện đồng thời hay riêng rẽ các hành vi “in, phát hành, mua bán trái phép” bởi có những đối tượng chỉ thực hiện in, phát hành...

Về nội dung quy định tại Điều 208: Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ (sửa đổi). Khoản 1 quy định: Người nào có trách nhiệm bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ mà vi phạm quy định của Nhà nước về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gây thiệt hại cho người khác hoặc cho ngân sách nhà nước có giá trị từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Như vậy mức phạt tiền chỉ từ 10 – 20% so với số gây thiệt hại, còn khá thấp và tuy đã có Khoản 2, 3 nâng mức xử phạt theo các điều kiện về hành vi nghiêm trọng hơn, nhưng rõ ràng về tổng thể quy định xử phạt tiền là còn thấp, chưa đảm bảo tính răn đe.

Bên cạnh đó, ở các điều quy định về tội liên quan đến thuế đều sử dụng nhiều cụm từ “có thể”. Việc này dẫn tới khó định lượng và có thể tạo nên bất cập trong xét xử, áp dụng hình thức xử phạt. Trong khi khoảng xem xét mức xử phạt sau cụm từ “có thể” khá rộng như: Pháp nhân còn có thể bị cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm; người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Đức Hải – Cục Thuế Hà Nội.

Lượt xem: 412

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.