ĐBQH Nguyễn Thị Hồng Hà: Nên xem xét sửa Điều 60 để người lao động có thêm lựa chọn

Khẳng định tính đúng đắn và tiến bộ của Điều 60, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, song trước mong muốn được hưởng bảo hiểm xã hội một lần của một bộ phận nhỏ người lao động, tại Phiên họp sáng 22.5, các ĐBQH nhất trí nên xem xét, sửa đổi quy định này để người lao động có thêm lựa chọn. Tuy nhiên, các ĐBQH cũng nêu rõ: nếu vội vã chạy theo phản ứng của một bộ phận người lao động để sửa ngay Điều 60 là không ổn. Việc sửa đổi quy định này cần tuân thủ chặt chẽ quy trình, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật; phải đánh giá toàn diện nếu sửa thì tác động như thế nào? và không sửa thì tác động ra sao? Các ĐBQH cũng nhấn mạnh, việc phải làm ngay là, tập trung tuyên truyền, giải thích để người lao động hiểu rõ, hiểu đúng quy định tại Điều 60.

Thảo luận tại Tổ về đề xuất sửa đổi Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội, các vị đại biểu Quốc hội đã phát biểu thống nhất việc sửa đổi cần tuân thủ chặt chẽ quy trình, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Khẳng định tính đúng đắn và tiến bộ của Điều 60, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, song trước mong muốn được hưởng bảo hiểm xã hội một lần của một bộ phận nhỏ người lao động, tại Phiên họp sáng 22.5, các ĐBQH nhất trí nên xem xét, sửa đổi quy định này để người lao động có thêm lựa chọn. Tuy nhiên, các ĐBQH cũng nêu rõ: nếu vội vã chạy theo phản ứng của một bộ phận người lao động để sửa ngay Điều 60 là không ổn. Việc sửa đổi quy định này cần tuân thủ chặt chẽ quy trình, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật; phải đánh giá toàn diện nếu sửa thì tác động như thế nào? và không sửa thì tác động ra sao? Các ĐBQH cũng nhấn mạnh, việc phải làm ngay là, tập trung tuyên truyền, giải thích để người lao động hiểu rõ, hiểu đúng quy định tại Điều 60.

Các đại biểu Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội thảo luận tại tổ

Phát biểu tại Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội, đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hà cho rằng nên xem xét sửa Điều 60 để người lao động có thêm lựa chọn.

Đại biểu Hồng Hà dẫn chứng, trong giai đoạn 2007 – 2014, tình trạng lao động xin nhận trợ cấp hưởng bảo hiểm xã hội một lần diễn ra ồ ạt là do Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 cho phép người lao động có dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội mà chưa hết tuổi lao động được nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần. Quy định này tuy tạo điều kiện linh hoạt cho người lao động lựa chọn nhưng chưa khuyến khích bảo lưu, tích lũy thời gian đóng bảo hiểm xã hội trong quá trình làm việc để có thể được hưởng lương hưu, nhằm bảo đảm cuộc sống khi hết tuổi lao động. Để hạn chế tình trạng này, cũng như giúp bảo đảm cuộc sống của người lao động về lâu dài, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 đã có quy định về việc cộng dồn thời gian đóng bảo hiểm, cho phép người lao động dù phải mất một thời gian dài mới tìm được việc làm mới sau khi hết hợp đồng lao động cũ, sẽ vẫn được giữ thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước đó. Ngoài phương án này, một phương án khác đã được thực hiện là bảo hiểm thất nghiệp. Theo đó, người lao động khi hết việc và do không tìm được việc làm khác sẽ được hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Loại hình bảo hiểm này được triển khai để vừa hỗ trợ một khoản tiền nhất định để duy trì cuộc sống, vừa góp phần giúp người lao động có thể học thêm nghề khác, có cơ hội tìm việc làm khác.

Khi Ủy ban Về các vấn đề xã hội thẩm tra dự án Luật Bảo hiểm xã hội, đại diện cơ quan soạn thảo đã nói rõ, quy định tại Điều 60 sẽ giúp thu hẹp số lượng người xin hưởng bảo hiểm xã hội một lần. Quy định này phù hợp với xu hướng phát triển chung, đã thể hiện đúng quan điểm, định hướng mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo đảm quyền thụ hưởng lâu dài của người lao động, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội lâu dài.

Tuy nhiên, có một thực tế là hiện nay, lao động tại doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài, doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ có thời gian làm việc ngắn, không đủ số năm tham gia bảo hiểm xã hội để được hưởng lương hưu như quy định của Luật. Các đơn vị này chủ yếu tận dụng sức lao động nên chỉ tuyển các lao động từ 18 - 25 tuổi và cho phép làm việc đến 30 - 35 tuổi với nữ, 40 tuổi với nam. Những cá nhân này khi hết hợp đồng lao động với doanh nghiệp rất khó tìm việc làm mới, nên  không có nhiều điều kiện để tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cho đủ khoảng thời gian được luật quy định. Ngoài ra, theo báo cáo của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, người lao động xin trợ cấp hưởng bảo hiểm xã hội một lần chủ yếu là lao động nữ tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, có nhiều lao động nữ đã lấy chồng là người nước ngoài và sắp qua quốc gia khác để sinh sống, nên có nguyện vọng được nhận bảo hiểm xã hội một lần.

Vì thế, đại biểu Hồng Hà đồng ý với việc sửa đổi Điều 60 của Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) để giúp người lao động có thêm cơ hội lựa chọn hình thức tham gia bảo hiểm xã hội. Cụ thể, trước mắt, sẽ cho phép người lao động khi chưa đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu, thì sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng, có quyền lựa chọn hưởng bảo hiểm xã hội một lần hoặc tiếp tục bảo lưu thời gian đóng. 

MINH TÚ

Lượt xem: 376

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.