Đại biểu Đinh Xuân Thảo: Trả lời thẳng câu hỏi mới là chất vấn

Vấn đề ở chỗ làm sao để người đặt câu hỏi phải hỏi thẳng vào vấn đề. Qua thống kê, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tổng hợp ý kiến, xác định mỗi Bộ trưởng chỉ trả lời xoay quanh hai đến ba vấn đề trọng tâm thôi, nên phải tập trung vào đó, nếu lan man thì rất khó để có thể xoáy sâu, đi đến cùng vấn đề. ĐBQH phải xác định trước sẽ hỏi Bộ trưởng nào, hỏi cái gì, đặt câu hỏi thật ngắn để tiết kiệm thời gian, không diễn giải. Đối với Bộ trưởng, trưởng ngành được hỏi, đừng nên báo cáo, kể lể thành tích mà trả lời trực tiếp vào câu hỏi, nói rõ việc đó được hay chưa được, chưa được vì sao, nguyên nhân là gì, trách nhiệm thuộc về ai, đưa ra lời hứa thế nào?

Muốn hoạt động chất vấn thực sự có hiệu quả, các Bộ trưởng không nên quá tập trung vào báo cáo thành tích mà nên trả lời thẳng vào câu hỏi của ĐBQH.

Theo dự kiến chương trình Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII, bắt đầu từ ngày 11/6, các ĐBQH sẽ tiến hành chất vấn bốn vị Bộ trưởng các Bộ: NN-PTNT, Công thương, KHCN và GD-ĐT. Sau đó, Thủ tướng Chính phủ (hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ được phân công) phát biểu làm rõ thêm một số vấn đề liên quan và trả lời chất vấn vào cuối phiên chất vấn buổi sáng ngày 13/6.

Xung quanh nội dung này, Báo Giao thông có cuộc trao đổi với TS Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lập pháp của Quốc hội.

Vẫn vòng vo, chưa đi thẳng vào vấn đề

Theo đánh giá của ông, nếu Quốc hội vẫn chỉ dành thời gian 2, 5 ngày cho hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn như hiện nay thì có quá ít không?

Các kỳ chất vấn trước cũng chỉ quy định trong hai ngày có bốn Bộ trưởng trả lời chất vấn, tức là mỗi người trả lời chất vấn trong một buổi, với lượng câu hỏi và các vấn đề đưa ra thì thời gian như thế là phù hợp. Vấn đề ở chỗ làm sao để người đặt câu hỏi phải hỏi thẳng vào vấn đề. Qua thống kê, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tổng hợp ý kiến, xác định mỗi Bộ trưởng chỉ trả lời xoay quanh hai đến ba vấn đề trọng tâm thôi, nên phải tập trung vào đó, nếu lan man thì rất khó để có thể xoáy sâu, đi đến cùng vấn đề. ĐBQH phải xác định trước sẽ hỏi Bộ trưởng nào, hỏi cái gì, đặt câu hỏi thật ngắn để tiết kiệm thời gian, không diễn giải.

Đối với Bộ trưởng, trưởng ngành được hỏi, đừng nên báo cáo, kể lể thành tích mà trả lời trực tiếp vào câu hỏi, nói rõ việc đó được hay chưa được, chưa được vì sao, nguyên nhân là gì, trách nhiệm thuộc về ai, đưa ra lời hứa thế nào? Tôi đã đến tham dự một buổi chất vấn Thủ tướng Anh, chỉ có 30 phút thôi nhưng có rất nhiều vấn đề được giải quyết. So với ở ta thì chúng ta vẫn vòng vo, chưa đi thẳng vấn đề. Người hỏi có khi cũng không nắm rõ thông tin.

Có ý kiến cho rằng, nên bớt thời gian thảo luận ở tổ để tăng thời gian chất vấn lên 3 - 4 ngày, quan điểm của ông thế nào?

Thực ra hiện nay thời gian thảo luận ở tổ rất cần thiết, nhất là khi trong kỳ họp này có nhiều luật mới quan trọng, chỉ có thảo luận ở tổ mới có điều kiện cho nhiều đại biểu phát biểu, đóng góp ý kiến mà không hạn chế thời gian phát biểu. Trên thực tế, thảo luận tại hội trường thời gian rất ít, một buổi tối đa cũng chỉ được khoảng 20 ĐBQH cho ý kiến. Mỗi người lại chỉ được phát biểu 7 phút nên nhiều khi không đủ trình bày ý kiến. Vì vậy, thảo luận ở tổ vẫn là hoạt động cần thiết, không thể bớt thời gian thảo luận được.

Cũng có ý kiến đề xuất mỗi phiên chất vấn chỉ nên có hai Bộ trưởng, trưởng ngành trả lời chất vấn để đi được đến cùng vấn đề mà ĐBQH nêu ra. Ông nghĩ sao về đề xuất này?

Đó cũng là một cách. Thực tế, ở ta nhiều lúc vẫn tính bình quân, tức là quan niệm Bộ trưởng nào cũng phải được chất vấn. Tôi nghĩ không nhất thiết như thế, vì các nước chủ yếu là chất vấn Thủ tướng, còn chúng ta lại chia ra cho các thành viên Chính phủ. Có lẽ chỉ nên tập trung vào một vấn đề lớn thôi, sau đó chọn người đứng đầu và chịu trách nhiệm chính trước việc đó để chất vấn.

Liên quan đến việc chọn Bộ trưởng trả lời chất vấn, ông có cho rằng, nên chủ động định hướng vào một nhóm vấn đề để quyết định người được mời chất vấn chứ không nên dựa vào số lượng câu hỏi của các ĐBQH?

Đúng là Quốc hội nên định hướng theo nhóm vấn đề, chứ còn nếu chọn người trả lời chất vấn như thế này thì lại theo tính bình quân, ai cũng phải trả lời, sau đó lại đánh giá, cho điểm, lấy phiếu, bỏ phiếu… Việc đó sẽ không hiệu quả. Nó cũng giống như hoạt động giám sát, giám sát trước đây tràn lan thì bây giờ rút kinh nghiệm, mỗi năm Quốc hội giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ thực hiện hai chủ đề giám sát, mỗi kỳ họp chỉ đưa ra bàn bạc về một nội dung giám sát, như thế sẽ tập trung hơn.

Lòng tin của dân quan trọng hơn chế tài pháp lý

Ông đánh giá thế nào về chất lượng của phiên chất vấn trong kỳ họp vừa qua?

Xu hướng thì những phiên chất vấn về sau ngày càng rút kinh nghiệm và ngày càng làm tốt hơn, nhưng vẫn có tình trạng câu hỏi và trả lời còn lan man, dàn trải. Cái chính là phải đi đến cùng một vấn đề để từ đó đi đến việc ra được nghị quyết, kiểm tra xem có khắc phục được hay không, có thực hiện đúng lời hứa hay không, thì cái đó chưa rõ. Bởi vậy, nhiều lúc trong nghị quyết cũng chung chung chứ chưa nêu ra được vấn đề cụ thể. Đó là còn chưa kể đến việc Bộ trưởng nào trả lời chất vấn cũng hứa, nhưng lại rất ít người thực hiện được lời hứa đó.

Vậy có nên quy định chế tài xử lý lời hứa mà không được thực hiện không, thưa ông?

Cái đó trong quy định của chúng ta chưa có. Hơn nữa, nếu là trách nhiệm pháp lý thì đúng là phải có chế tài. Còn việc chất vấn, giám sát của Quốc hội mang tính chất chính trị, mà chính trị thì cao nhất vẫn là vấn đề lòng tin, là sự đánh giá của nhân dân, của quần chúng. Cái đó có khi còn mạnh hơn cả những chế tài pháp lý.

Cá nhân ông đánh giá thế nào về việc thực hiện lời hứa của các Bộ trưởng tại những kỳ họp vừa qua?

Ở nước ta có chuyện cứ lặp đi lặp lại, cứ hứa rồi kết quả thực hiện thế nào lại chưa rõ. Theo dự kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là chỉ chất vấn lần này nữa thôi, còn kỳ cuối năm để Quốc hội xem xét lại lời hứa của các Bộ trưởng, trưởng ngành, xem họ đã thực hiện được gì. Việc chất vấn nên tập trung đi vào trách nhiệm chính trị, pháp lý ở tầm cao của những nhân vật chính trị. Tức là trong chất vấn không nên đi vào những vấn đề quá vụn vặt, cụ thể. Những điều đó có thể phát biểu trong phiên thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, mặt nào được thì gắn với trưởng ngành, ví dụ ngành GTVT trong những năm qua có sự phát triển vượt bậc thì phải biểu dương, nêu gương người đứng đầu ngành. Còn với những ngành nào, vấn đề nào chưa làm được, còn tồn tại kéo dài thì phải quy trách nhiệm của người đứng đầu thế nào cho rõ.

Cảm ơn ông! 

Hoài Thu/baogiaothong.vn

Lượt xem: 464

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.