Đại biểu Dương Minh Ánh đóng góp ý kiến vào Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm

Thực hiện chương trình của kỳ họp thứ 3 Quốc hội, tại phiên họp toàn thể tại hội trường để thảo luận Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm (ATTP) giai đoạn 2011 – 2016, đại biểu Quốc hội Dương Minh Ánh, Đoàn ĐBQH Thành phố Hà Nội đã có phát biểu đóng góp ý kiến về một số nội dung cụ thể.

Thực hiện chương trình của kỳ họp thứ 3 Quốc hội, tại phiên họp toàn thể tại hội trường để thảo luận Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm (ATTP) giai đoạn 2011 – 2016, đại biểu Quốc hội Dương Minh Ánh, Đoàn ĐBQH Thành phố Hà Nội đã có phát biểu đóng góp ý kiến về một số nội dung cụ thể.

Đại biểu Dương Minh Ánh phát biểu

Theo đại biểu để có được sản phẩm rau quả tươi sống và thực phẩm chăn nuôi sạch và an toàn thì trước nhất nguồn nước và môi trường đất, môi trường không khí phải được đảm bảo sạch, nhưng hiện nay, ô nhiễm môi trường nước đã trở nên rất trầm trọng tại khu vực 2 con sông Đáy và sông Nhuệ, nguyên gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sản xuất, chăn nuôi và trồng trọt, sức khỏe của người dân ở 5 tỉnh từ Thành phố Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và tỉnh Hòa Bình. Theo thống kê của Cục quản lý tài nguyên môi trường cho thấy năm 2016 trên toàn lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy mỗi ngày tiếp nhận khoảng 3.811 triệu m3 nước thải, trong đó nước thải từ trồng trọt và chăn nuôi chiếm 67%, khoảng 2,55 triệu m3 mỗi ngày, nước thải sinh hoạt chiếm 16% với 610.000 m3 mỗi ngày, nước thải công nghiệp là 16,68% m3 mỗi ngày, nước thải y tế chiếm 0,4% khoảng 15.000 m3 mỗi ngày. Cụ thể tại sông Nhuệ, tình trạng nước bị ô nhiễm nghiêm trọng ở đoạn sông chảy qua địa phận Thanh Trì, tiếp giáp với sông Tô Lịch, tiếp đến huyện Thường Tín, huyện Phú Xuyên các thông số cơ bản đều vượt quy chuẩn cho phép đến hàng chục, hàng trăm lần. Ở sông Đáy, chất lượng nước cũng bị ngày một suy giảm bởi tiếp nhận nước thải từ huyện Đan Phượng, Quốc Oai, Hoài Đức, Chương Mỹ, với tình trạng ô nhiễm nêu trên không những sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thủy sản và chất lượng sống của người dân 2 bên bờ sông mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của 5 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và tỉnh Hòa Bình.

Đại biểu đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương sẽ vào cuộc sớm và quyết liệt hơn nữa để giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm của dòng sông Đáy, sông Nhuệ.

Về việc quản lý rượu, bia và nước giải khát, đại biểu cho rằng, số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh rượu theo kiểu truyền thống, rượu lậu, rượu giả và nước giải khát sản xuất theo mô hình tư nhân đang tràn ngập trên thị trường, len lỏi trong các xóm làng từ miền ngược đến miền xuôi, có nơi đã đến mức báo động có giới hạn đỏ, nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát tình trạng này. Rượu kém chất lượng luôn là mối quan tâm lo ngại của nhiều người tiêu dùng, khi thời gian vừa qua đã xảy ra liên tiếp các vụ ngộ độc dẫn đến tử vong, hôn mê sâu do rượu. Tính riêng tại Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai trong hơn 3 tháng qua đã ghi nhận 34 trường hợp ngộ độc rượu methanol. Trong đó có 9 trường hợp tử vong, đặc biệt tại Lai Châu mới đây đã xảy ra vụ ngộ độc rượu methanol với hàng chục người nhập viện và 10 trường hợp đã tử vong.

Theo báo chí đưa tin thì trong thời gian qua các cơ quan chức năng đã thu hồi và tiêu hủy hơn 70 nghìn lít rượu không rõ nguồn gốc xuất xứ và chỉ trong đầu tháng 5 năm 2017 vừa qua Chi cục quản lý thị trường Hà Nội đã thu giữ 20 nghìn lít rượu thủ công không rõ xuất xứ, trong số này có gần 600 chai rượu ngoại của nhiều thương hiệu lớn với giá trị trên thị trường. Năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định 94 về sản xuất, kinh doanh rượu, trong đó quy định rõ toàn bộ rượu sản xuất và tiêu thụ trong nước phải được dán tem và đăng ký về chất lượng gồm cả rượu do làng nghề, hợp tác xã, các tổ chức, cá nhân sản xuất. Tuy nhiên, trong 5 năm vừa qua chỉ 1 phần rất nhỏ các đơn vị sản xuất chấp hành quy định này.

Thực tế theo thống kê của Hiệp hội rượu, bia, nước giải khát, 80% lượng rượu hiện nay được tiêu thụ trên thị trường không được dán tem thuế, hậu quả nhà nước thất thu một khoản tiền thuế rất lớn, nguy hiểm hơn điều này đồng nghĩa với việc 80% lượng rượu được tiêu thụ trong nước không kiểm soát được về mặt chất lượng đang trôi nổi trên thị trường. Hệ lụy của vấn đề này không chỉ là những ca ngộ độc cấp tính nghiêm trọng xảy ra liên tục gần đây mà còn để lại những hậu quả lâu dài về giống nòi, trí tuệ và sức khỏe của người dân Việt Nam.

Đại biểu đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước cùng vào cuộc, chấn chỉnh lại việc quản lý, xiết chặt việc thực hiện các quy định của nhà nước về sản xuất và kinh doanh rượu. Tăng chế tài xử phạt với các đơn vị, cá nhân vi phạm quy định về chất lượng và điều quan trọng việc quản lý nghiêm ngặt này phải được duy trì trong một thời gian dài chứ không phải chỉ là phong trào.

HOÀI THƯƠNG

Lượt xem: 333

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.