Đại biểu Dương Quang Thành lý giải nguyên nhân tăng giá điện

Sáng 22/5, phát biểu thảo luận tại tổ ĐB Quốc hội Đoàn TP Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Dương Quang Thành lý giải về nguyên nhân tăng giá điện 8,36%. Ông cho hay, việc điều chỉnh giá điện vào tháng 3 không phải là tiền lệ.

Sáng 22/5, phát biểu thảo luận tại tổ ĐB Quốc hội Đoàn TP Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Dương Quang Thành lý giải về nguyên nhân tăng giá điện 8,36%. Ông cho hay, việc điều chỉnh giá điện vào tháng 3 không phải là tiền lệ.

ĐB Dương Quang Thành cho biết, tổng hợp ảnh hưởng của một số yếu tố đầu vào chính gồm giá than, dầu, khí tăng và một số yếu tố khác đã làm tăng chi phí mua điện năm 2019 khoảng 20.000 tỷ đồng. Việc điều chỉnh giá điện lên 8,36% nhằm bù đắp cho khoản thiếu hụt này.

Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội cũng đã chỉ rõ, giá điện bình quân năm 2019 là 1.864,44 đồng/kWh. Các chi phí trong tính toán giá điện chỉ bao gồm chi phí sản xuất kinh doanh của các hoạt động trong lĩnh vực điện, không bao gồm lĩnh vực khác và đầu tư ngoài ngành. Chi phí này tương ứng tỷ lệ tăng giá so với giá bán lẻ điện bình quân hiện hành là 8,36%.

“Việc điều chỉnh giá điện cũng đã được Thủ tướng Chính phủ nêu trong các báo cáo và đã được tính toán từ năm 2018”, ĐB Dương Quang Thành nói.

Đại biểu Dương Quang Thành phát biểu tại Tổ (Ảnh: Hoài Thương)

Cũng theo Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn EVN: “Kết luận gần nhất trước khi tăng giá điện là ngày 27/1/2019, Thường trực Chính phủ đã họp và đã có quy định điều chỉnh giá điện lên 8,36%. Từ ngày 27/1 - 20/3, trước khi tăng giá điện, Bộ Công Thương đã họp và báo cáo đầy đủ việc tăng giá điện vào ngày 20/3. Chính vì vậy, việc công khai minh bạch tăng giá điện đã được Chính phủ, Bộ Công Thương đã làm đầy đủ các thủ tục theo quy định”.

Trả lời thắc mắc tại sao EVN lại điều chỉnh giá điện vào mùa nắng nóng, ĐB Dương Quang Thành lý giải việc điều chỉnh giá điện vào tháng 3 không phải là tiền lệ. Cụ thể, từ năm 2017 đến nay có 11 lần điều chỉnh giá điện, trong đó có 4 lần điều chỉnh vào tháng 3 và 3 lần điều chỉnh vào tháng 12. Như vậy, tỷ lệ các lần điều chỉnh giá điện vào tháng 3 cao nhất trong các lần điều chỉnh giá điện.

Mặt khác, trong phân tích của Chính phủ, tháng 3 là tháng CPI thấp nhất, thuận lợi nhất cho việc điều chỉnh giá điện.

Tranh luận với ĐB Dương Quang Thành, ĐB Vũ Thị Lưu Mai (đoàn Hà Nội) cho rằng, 3 lý do khiến tiền điện tháng 4 tăng cao được Chính phủ đưa ra là do thời tiết nắng nóng; tác động của việc điều chỉnh tăng giá điện 8,36% và kỳ ghi chỉ số công tơ của tháng 4 dài hơn tháng 3/2019 chưa thuyết phục. Chẳng hạn, với lý do thứ nhất thì năm nào mùa hè cũng nắng nóng, nhiệt độ tăng cao. Rất nhiều khách hàng thắc mắc.

ĐB Dương Quang Thành đã giải thích rõ hơn về cách tính chỉ số công tơ hằng tháng và trong tháng 4 là 31 ngày, dài hơn 3 ngày so với kỳ ghi chỉ số công tơ của tháng 3/2019. Đó là một trong những nguyên nhân khiến tiền điện của các hộ sinh hoạt tăng cao.

Liên quan đến số lượng thắc mắc của khách hàng được ĐB Vũ Thị Lưu Mai đề cập, Chủ tịch Hội đồng thành viên EVN cho biết, thống kê của EVN từ số liệu phần mềm quản lý chăm sóc khách hàng cho thấy, từ ngày 20/3 - 4/5, Tập đoàn tiếp nhận và giải đáp 71.504 yêu cầu của khách hàng liên quan đến hóa đơn tiền điện.

Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai phát biểu tại Tổ (Ảnh: Hoài Thương)

Trong số này có 14.541 kiến nghị của khách hàng, chiếm tỷ lệ gần 20% thắc mắc về chỉ số công tơ điện, hóa đơn tiền điện. Các thắc mắc của khách hàng đã được trả lời 100%, các khách hàng đều hài lòng, đồng ý với kết quả giải quyết.

Số liệu thống kê cũng cho thấy tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, mặc dù sản lượng điện và số lượng khách hàng sử dụng điện ở bậc thang cao (trên 200 kWh/tháng) cao hơn bình quân cả nước và hóa đơn tiền điện cao hơn nhưng số lượng kiến nghị về chỉ số, hóa đơn ít hơn nhiều so với các khách hàng ở các tỉnh, TP còn lại.

Cũng theo ĐB Dương Quang Thành: Trong khoảng thời gian trên, có 11 bài báo đã nêu phản ánh của khách hàng với địa chỉ cụ thể và 8 phản ánh của khách hàng qua Facebook. Những trường hợp này đều được đơn vị chức năng chủ động liên hệ xử lý, giải thích cặn kẽ. Khách hàng thắc mắc đã đồng ý với cách giải quyết của đơn vị.

Về việc tại phiên thảo luận tổ sáng nay 22/5, một số ĐB Quốc hội đề nghị kiểm toán EVN để minh bạch giá điện, Chủ tịch EVN cho biết thực tế EVN đã được kiểm toán. ĐB Dương Quang Thành khẳng định: "Nếu Quốc hội yêu cầu tiếp tục kiểm toán thì chúng tôi sẵn sàng đáp ứng yêu cầu. Tôi đồng ý với các ĐBQH rằng mục đích là thông tin minh bạch, dư luận hiểu đúng".

Lượt xem: 448

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.