Đại biểu Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm - một số tồn tại trong quản lý kiến trúc

Tiếp tục chương trình kỳ họp thứ Sáu, Quốc hội khóa XIV, chiều ngày 14/11/2018 Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật Kiến trúc, Đại biểu Hòa thượng thích Bảo Nghiêm góp ý vào dự thảo Luật Kiến trúc.

Tiếp tục chương trình kỳ họp thứ Sáu, Quốc hội khóa XIV, chiều ngày 14/11/2018 Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật Kiến trúc, Đại biểu Hòa thượng thích Bảo Nghiêm góp ý vào dự thảo Luật Kiến trúc.

Đại biểu tán thành với sự cần thiết và phạm vi điều chỉnh luật, quản lý kiến trúc là yêu cầu đã được nhiều nước quan tâm, một số quốc gia đã ban hành luật hàng chục năm trước đây. Ở Việt Nam, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp có liên quan đến kiến trúc đã ra đời từ năm 1948 đến nay; Hội Quy hoạch và phát triển đô thị thành lập từ năm 1998 cũng đã trải qua 20 năm hoạt động, Đảng và Nhà nước đã rất chú trọng ban hành nhiều luật, dưới luật về các vấn đề liên quan đến kiến trúc, yêu cầu cần có luật về kiến trúc thực tế đã đề cập từ hơn 20 năm nay nhưng phải đến năm 2017 chính thức được Quốc hội đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Qua đó, có thể khẳng định rất cần Luật Kiến trúc và kỳ họp này đã có dự thảo để Quốc hội thảo luận là mốc giới quan trọng, thành công bước đầu được quan tâm về phạm vi điều chỉnh.

Đại biểu Hòa Thượng Thích Bảo Nghiêm phát biểu (Ảnh: Minh Tú)

Về một số vấn đề tồn tại trong quản lý kiến trúc, Đại biểu Nghiêm cho rằng rất cần có chương quản lý kiến trúc trong luật.

Đối tượng kiến trúc dự thảo luật quy định chưa rõ, chưa đầy đủ. Kiến trúc truyền thống Việt Nam cần quan tâm đến kiến trúc làng cổ, làng nghề truyền thống là vấn đề giới chức chuyên môn khoa học đã nghiên cứu nhiều, nước ngoài quan tâm nhưng chưa được đề cập. Tại Điều 9 về kiến trúc nông thôn không xác định yêu cầu này.

Đại biểu Nghiêm cho rằng công trình di tích, di sản mới chỉ quan tâm đến loại được xếp hạng còn các công trình có giá trị chưa được đề cập. Hơn nữa chỉ đề cập đến trong khu phố cổ là chưa minh bạch, đầy đủ. “Các khu phố cổ còn có các khu phố cũ với nhiều loại công trình đã xếp hạng hoặc có giá trị quản lý theo định hướng ở chỗ nào? Ở đây, cả về từ ngữ khu phố cổ như giải thích ở Điều 3 chưa hợp lý. Điều này chúng tôi đã trao đổi với các nhà chuyên gia, họ đều đánh giá là định nghĩa chưa khoa học.” Đại biểu Nghiêm nói.

Về quản lý về kiến trúc thống nhất, cần có công cụ quản lý là quy chế nhưng cần quy định trong hệ thống thể chế hiện hành với tinh thần cải cách đổi mới nhưng có tính thực tiễn và không nên phức tạp thêm. Trong xây dựng hiện nay đang phổ biến là có quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc, vấn đề tách kiến trúc thành yêu cầu có quy chế riêng liệu có làm phức tạp thêm không? Việc Quốc hội thông qua Luật Quy hoạch sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 với quan điểm tích hợp quy hoạch được dư luận hoan nghênh, xem là đột phá. Vậy tại sao lần này, trong Luật Kiến trúc không xem xét đến khía cạnh đó?

Về hội đồng kiến trúc quốc gia. Đại biểu Nghiêm cho rằng cần phải có hội đồng nhưng là thẩm quyền của Chính phủ nên để Chính phủ quyết định, không nên đưa vào luật. Trước đây Chính phủ đã thành lập hội đồng kiến trúc nhưng sau thấy không thích hợp đã được giải tán. Thực tế hiện nay trong Luật Quy hoạch có cần quy định về hội đồng quy hoạch đâu nhưng Chính phủ thấy giai đoạn này cần có và đang tổ chức được thành lập, dư luận rất ủng hộ. Đề nghị xem xét lại quy định này ở Điều 13 dự thảo.

Về chứng chỉ hành nghề. Từ năm 1993, Bộ Xây dựng đã có Quyết định 91 về quy chế hành nghề kiến trúc sư. Nhiều nước hiện nay cũng quản lý thông qua cấp chứng chỉ hành nghề với đặc thù các hoạt động kiến trúc cần cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc và có phân hạng để nâng cao chất lượng kiến trúc. Cần có quy định chung về chứng chỉ hành nghề và thẩm quyền phải do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp. Trong điều kiện hiện nay, nên là Bộ Xây dựng với sự tham gia xét cấp của các bộ liên quan về văn hóa nghệ thuật và các tổ chức xã hội nghề nghiệp như hội kiến trúc sư, hội quy hoạch. Việc xét cấp có thể phân cấp tới Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đề nghị cần quan tâm và làm rõ về hành nghề kiến trúc tại Việt Nam của người nước ngoài. Trong hội nhập cần quan tâm, tiếp thu trình độ, kinh nghiệm từ nước ngoài. Nhưng cũng cần thiết phải khai thác năng lực từ kiến trúc sư trong nước đang có tiềm năng nhưng chưa được công bằng trong thiết kế kiến trúc. Nhất là thi tuyển các công trình quan trọng của đất nước, của địa phương.

Lượt xem: 1292

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.