Đại biểu Nguyễn Anh Trí phát biểu tại Hội trường về dự án Luật Kiến trúc

Trong phiên họp chiều 21/5, Quốc hội nghe Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Kiến trúc và thảo luận về dự án Luật này.

Trong phiên họp chiều 21/5, Quốc hội nghe Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Kiến trúc và thảo luận về dự án Luật này.

Trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Kiến trúc, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng, cho biết: Tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về dự thảo luật Kiến trúc. Dự thảo luật cũng được gửi tới các đoàn Đại biểu Quốc hội để xin ý kiến. Dự thảo Luật Kiến trúc sau khi tiếp thu, chỉnh sửa, hiện có 5 chương 41 điều, tăng 4 điều so với dự thảo Luật Chính phủ trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 6: Về phạm vi điều chỉnh của Luật tại điều I, đã số ý kiến Đại biểu Quốc hội tán thành phạm vi điều chỉnh như dự thảo luật đã trình Quốc hội.

Theo đó Luật Kiến trúc được Quy định về quản lý kiến trúc và hành nghề kiến trúc. Tiếp thu ý kiến của các Đại biểu, dự thảo luật đã bổ sung một số quy định mang nội hàm phát triển, thể hiện trong chính sách của Nhà nước trong các hoạt động của kiến trúc, hợp tác quốc tế về kiến trúc, thi tuyển phương án kiến trúc; quản lý đối với công trình kiến trúc có giá trị bản sắc văn hóa của dân tộc trong kiến trúc và hành nghề kiến trúc.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Anh Trí Đoàn Hà Nội đã tham gia thảo luận tại hội trường. Đại biểu Trí cho rằng Dự án Luật Kiến trúc đã được soạn thảo, thực hiện theo trình tự, nội dung, quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Dự án Luật được chuẩn bị rất công phu với số lượng hồ sơ lớn, đầy đủ. Đại biểu nhất trí với quy định như dự thảo luật và các nội dung giải trình, tiếp thu, chỉnh lý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ngoài ra, còn có ý kiến tham gia, góp ý các vấn đề cụ thể đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, chỉnh lý, bổ sung. Đại biểu Trí phát biểu góp ý cụ thể như sau:

Một là về quy định bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong kiến trúc và bảo tồn, khai thác công trình kiến trúc có giá trị nhưng chưa được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa ở Điều 5. Như chúng ta đã biết, quy định về bản sắc văn hóa trong kiến trúc là hết sức quan trọng, và đặc biệt còn có ý nghĩa đối với đất nước chúng ta, một đất nước với hàng nghìn năm phát triển và với cộng đồng 54 dân tộc anh em đã đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta thấy rất rõ ở quốc tế, khi nói đến, thậm chí xem trên tivi chúng ta có thể thấy được rằng đây là hình ảnh của Ý, đây là hình ảnh của Pháp, đây là hình ảnh của Nhật, của Trung Quốc v.v... Vậy nên xây dựng bản sắc là rất quan trọng, tôi hết sức nhất trí với điểm này. Tuy nhiên, do quy định về bản sắc văn hóa dân tộc đòi hỏi am hiểu sâu sắc, chuyên về văn hóa dân tộc và phù hợp với các vùng miền. Vì vậy, đề nghị Ban Soạn thảo chỉnh lý quy định tại Điều 5 theo hướng giao Chính phủ, Bộ Xây dựng và Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp xây dựng và quy định bản sắc văn hóa dân tộc để đảm bảo tính thống nhất. Điều này cũng trùng với ý kiến phát biểu của một số đại biểu trước tôi. Đồng thời, nên đưa thêm chính sách để bảo vệ nhà truyền thống của người dân tộc thiểu số, phải có biện pháp, chỉ ra, khắc phục những nhược điểm đối với ngành kiến trúc khu vực nông thôn, kiến trúc truyền thống của một số dân tộc thiểu số, cần bài trừ các thủ tục sinh hoạt lạc hậu. Phải có thêm ý này thì khi có chính sách, đồng bào sẽ sống tốt hơn.

Đại biểu Nguyễn Anh Trí phát biểu (Ảnh: Ngọc Ánh)

Tại Điều 22 về quy tắc ứng xử nghề nghiệp của kiến trúc sư. Cũng giống ngành y, về đạo đức hành nghề, đây là quy định rất cần thiết, góp phần từng bước nâng cao chất lượng hành nghề của đội ngũ kiến trúc sư hiện nay và đáp ứng được nhu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kiến trúc.

Tại Điều 22, nên chuyển khoản 1 thành khoản 3, khoản 2 trở thành khoản 1. Nội dung về quy tắc ứng xử nghề nghiệp gồm a, b, c, d. Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quy tắc ứng xử nghề nghiệp của kiến trúc sư hành nghề và quy tắc ứng xử nghề nghiệp của kiến trúc sư hành nghề phải được ban hành, áp dụng thống nhất trên toàn quốc.

Về quyền, nghĩa vụ kiến trúc sư hành nghề tại Điều 32, để đảm bảo tương thích với Điều 20, tổ chức xã hội nghề nghiệp về hành nghề kiến trúc, đề nghị bổ sung tại khoản 1 Điều 32 là kiến trúc sư được tham gia vào các tổ chức xã hội nghề nghiệp.

Cuối cùng, Luật Kiến trúc cần làm rõ nét mối quan hệ chặt chẽ và biện chứng bởi Luật Quy hoạch. Mặt khác, Luật Kiến trúc cần tạo cơ sở để hạn chế, dần chấm dứt kỷ nguyên nhà ống, nhà quan tài, siêu méo, siêu mỏng đang thịnh hành trong nước, nhất là tại thành phố lớn.

Lượt xem: 499

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.