Đại biểu Nguyễn Quốc Bình: Định hướng những sản phẩm chủ lực, định hướng về công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệp phụ trợ

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 10, ngày 23.10, các Đoàn ĐBQH thảo luận về các dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Các dự thảo văn kiện gồm: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XI tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Ðảng; Dự thảo báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 10, ngày 23.10, các Đoàn ĐBQH thảo luận về các dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Các dự thảo văn kiện gồm: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XI tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Ðảng; Dự thảo báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020.

Đoàn ĐBQH TP Hà Nội thảo luận tổ

Phát biểu đóng góp của Đại biểu Quốc hội Đoàn Hà Nội Nguyễn Quốc Bình tập trung nhấn mạnh, Nghị quyết lần này có 4 điểm mới so với Nghị quyết 11. Một là, xác định thị trường là vấn đề cơ bản, nhà nước điều tiết mọi hoạt động kinh tế trên cơ sở thị trường. Điều này được thể hiện, thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược quy hoạch, kế hoạch và phù hợp với cơ chế thị trường. Đây là đổi mới hẳn so với Nghị quyết 11, xác định nhà nước lấy mục tiêu thị trường và lấy thị trường làm gốc để điều hành, phân bổ nguồn lực và điều hành phát triển kinh tế. Đây là điểm quan trọng trong đường lối chính sách của Đảng và chi phối trong các hoạt động và bảo đảm cho hoạt động kinh tế của chúng ta khoa học và gắn với thị trường.

Thứ hai, xác định vai trò kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Đây là một điểm hết sức quan trọng trong Nghị quyết lần này. Nghị quyết 11 xác định các thành phần kinh tế trong đó có thành phần kinh tế tư nhân, nhưng lần này xác định rất rõ, hoàn thiện cơ chế chính sách, khuyến khích tạo thuận lợi, phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở  hầu hết các lĩnh vực kinh tế, và trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Đổi mới này sẽ tạo nền tảng để chúng ta phát triển kinh tế theo định hướng thị trường và huy động được nguồn lực mạnh mẽ của toàn xã hội để phát triển kinh tế. 

Thứ ba, xác định doanh nghiệp là thành phần kinh tế chủ đạo của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghị quyết lần này xác định rõ doanh nghiệp là động lực quan trọng, chủ đạo của sự nghiệp công nghiệp hóa. Trong đó, có chính sách thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp Việt Nam thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ tư, xác định vai trò của các mối liên kết kinh tế. Từ trước tới nay, chúng ta có quy hoạch liên kết vùng, kinh tế vùng và trong các chính sách cũng đã có nhưng lần này Nghị quyết đã nêu rõ về phát triển kinh tế vùng, liên vùng, đặc biệt nhấn mạnh vai trò liên kết giữa các thành phần kinh tế và giữa các chủ thể là doanh nghiệp. Điều này rất quan trọng vì một trong những phương pháp quan trọng của kinh tế là phải có sự liên kết. Cả thế giới phải có liên kết toàn cầu và từng khu vực phải có liên kết kinh tế. Trong một quốc gia thì việc liên kết các vùng thì phát huy hiệu quả các nguồn lực và phân bổ một cách hợp lý và không bị lãng phí và phát huy sức mạnh của từng vùng để tạo cho nền kinh tế thống nhất và phát huy hiệu quả, phù hợp với nguồn lực hữu hạn của chúng ta, bảo đảm tối ưu hóa và hiệu quả hóa. Báo cáo lần này xác định mục tiêu rõ ràng, trong liên kết giữa các thành phần kinh tế và liên kết giữa các doanh nghiệp của chúng ta là điểm yếu vì nguồn lực, tiềm lực của các doanh nghiệp của chúng ta còn hạn chế. Nếu không liên kết thì khi hội nhập chúng ta thua ngay trên sân nhà.

Bốn điểm mấu chốt này mở đường lý luận và là kim chỉ nam cho hoạt động chính sách kinh tế của chúng ta.

Tuy nhiên, Nghị quyết cần làm rõ hơn, đó là chủ trương, đường lối kinh tế Nghị quyết cần làm rõ và có tư tưởng chỉ đạo cụ thể vào từng lĩnh vực kinh tế chủ lực phát huy lợi thế kinh tế của đất nước. Trong Nghị quyết mới đề cập đến 3 lĩnh vực, đó là lĩnh vực kinh tế biển, lĩnh vực dịch vụ và lĩnh vực công nghiệp. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chưa nói rõ là định hướng phát triển theo lĩnh vực nào.

Lĩnh vực nông nghiệp cũng chỉ đề cập gắn phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn với việc xây dựng nông thôn mới. Việc xây dựng tư tưởng chủ đạo và đường lối cho việc phát triển kinh tế chủ lực của các lĩnh vực chủ lực và tạo ra các sản phẩm chủ lực thì trong đường lối của Đảng cũng nên định hướng rõ.

Trong nông nghiệp mới chỉ nói về định hướng phát triển theo hướng công nghệ phát triển cao, chưa nói định hướng phát triển theo hướng nông nghiệp hữu cơ mà đây chính là xu thế của thế giới và xu thế của hội nhập, xu thế tất yếu của bảo vệ tài nguyên môi trường…Dự thảo chưa nói rõ vấn đề này.

Trong công nghiệp chưa làm rõ, nổi bật vai trò của chế biến, chế tạo trong việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phải ưu tiên và tập trung nguồn lực như thế nào, từ đó mới có chỉ đạo đến các lĩnh vực kinh tế, giáo dục đào tạo…Trong công nghiệp cần phải định hướng những sản phẩm chủ lực, định hướng về công nghiệp chế biến, chế tạo, và công nghiệp phụ trợ. Dù báo cáo đã có nhưng muốn phải nhấn mạnh thành tư tưởng chủ đạo.

Về khoa học công nghệ chưa làm rõ những phương hướng chủ đạo trong mục tiêu về công nghiệp hóa và hiện đại hóa cũng như trong nền kinh tế trí trức, mới chỉ nói về tổng thể phát triển công nghệ như thế nào, kinh phí nhưng chưa làm rõ định hướng trong khoa học công nghệ phải có đề tài, sản phẩm mang trí tuệ Việt Nam. Tập trung khuyến khích và chi phí cho khoa học công nghệ để phục vụ cho mục tiêu là tạo ra sản phẩm phục vụ cho nền kinh tế chủ lực của đất nước.

MINH TÚ

Lượt xem: 69

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.