Đại biểu Nguyễn Quốc Hưng băn khoăn trước thực trạng di sản văn hóa Huế- di sản thế giới bị xâm hại nghiêm trọng

Tại phiên thảo luận kết quả thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2018; dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2019 và kế hoạch tài chính- ngân sách nhà nước quốc gia 3 năm 2019-2021, đại biểu Quốc hội Nguyễn Quốc Hưng- Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đã cho rằng, do tồn tại của lịch sử, vẫn còn một số lượng rất lớn người dân chiếm dụng và sinh sống trong vùng lõi của khu di sản Huế.

        Tại phiên thảo luận kết quả thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2018; dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2019 và kế hoạch tài chính- ngân sách nhà nước quốc gia 03 năm 2019-2021, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Quốc Hưng - Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đã cho rằng, do tồn tại của lịch sử, vẫn còn một số lượng rất lớn người dân chiếm dụng và sinh sống trong vùng lõi của khu di sản Huế.

        Riêng khu vực kinh thành Huế đã có đến 4.200 hộ dân, với khoảng 200.000 nhân khẩu sinh sống. Điều đó không chỉ gây áp lực rất lớn và đe dọa trực tiếp cho sự tồn vong của các di sản mà trước hết, đó cũng là cuộc sống của hàng chục nghìn hộ dân đa số là nghèo sống tạm bợ, lay lắt, không ổn định, không tương lai. Di dời, giải tỏa người dân sống trong vùng lõi của khu di sản kinh thành không chỉ là việc an dân mà còn góp phần bảo vệ di sản, giúp Thừa Thiên - Huế có một sức bật mới về du lịch và dịch vụ. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ thực hiện lời hứa với UNESCO và với người dân của Huế xem xét hỗ trợ cho đề án di dời dân ra khỏi khu vực 1 di tích kinh thành Huế với kinh phí khoảng 1.800 tỷ từ năm 2019 - 2022. Nếu như không làm gấp ngay trong năm 2019 thì áp lực lên khu di sản ngày càng lớn do các gia đình ngày càng nghèo, càng đông con, nhu cầu tách hộ, cơi nới lấn chiếm ngày càng lớn. Hiện có 4.200 hộ, nếu vài năm sau không làm thì có thể số hộ tách ra lên đến 5.000, 6.000 hộ, khi đó khoản tiền đền bù lại càng tăng, di dời càng khó.

Đại biểu Nguyễn Quốc Hưng phát biểu (Ảnh: Minh Tú)

        Ngoài việc cấp kinh phí thực hiện dự án di dời dân trên, cần thiết phải đầu tư thích đáng ra tấm ra món cho công tác bảo tồn tôn tạo và phát huy các di sản văn hóa Huế tương xứng với vai trò và vị thế của di sản văn hóa thế giới vì những lí do như sau:

        Huế là kinh đô cuối cùng của chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam, là nơi hội tụ kết tinh những di sản văn hóa truyền thống vô giá của dân tộc. Dù trải qua các biến động lịch sử, đây vẫn là nơi bảo tồn tốt, đầy đủ nhất diện mạo của một kinh đô lịch sử với cung điện, thành quách, đền đài, lăng tẩm, đàn tế, phủ đệ, nhà vườn và di sản văn hóa phi vật thể phong phú của cung đình, dân gian. Đến nay, cố đô Huế là nơi duy nhất của Việt Nam và hiếm có trên thế giới có đến 5 di sản thuộc về một triều đại đã được UNESCO công nhận thuộc 3 loại hình khác nhau, là di sản vật thể, di sản phi vật thể và di sản tư liệu. Vì vậy, việc đầu tư cho công tác bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị di sản cố đô Huế là vô cùng cần thiết, đây là một khoản đầu tư rất có ý nghĩa, không chỉ cho hiện tại mà còn cho cả tương lai của đất nước, của dân tộc.

       Từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến nay đã qua hơn 43 năm, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đầu tư cho công cuộc bảo tồn di sản Huế, nhất là từ khi Huế được công nhận là di sản thế giới cách đây 23 năm. Tuy vậy, mức độ đầu tư còn rất hạn chế. Theo thống kê của tỉnh Thừa Thiên - Huế, trong 25 năm qua tổng nguồn đầu tư cho công cuộc bảo tồn di sản cố đô Huế mới đạt khoảng 1.600 tỷ, trong đó ngân sách trung ương chỉ chiếm 40%, 60% còn lại là ngân sách địa phương và các nguồn hỗ trợ khác. Mặc dù, sự đầu tư này đã giúp Huế vượt qua được giai đoạn cứu nguy khẩn cấp, bước vào thời kỳ bảo tồn bền vững, như đánh giá của UNESCO, nhưng thực sự còn rất thiếu và rất không đủ. Nhà nước đã ban hành những chính sách đầu tư cho Huế nhưng phần lớn không được thực hiện một cách đầy đủ. Như so sánh của các nhà văn hóa, các nhà đầu tư và cử tri của Huế thì khoản đầu tư 25 năm cho di sản văn hóa quốc gia đặc biệt này, một biểu tượng của văn hóa lịch sử quốc gia, cả khu di tích thành nội và không gian văn hóa xung quanh không bằng 1km đường sắt trên cao và khoảng 1,5 km làm đường ở khu đô thị mới Thủ Thiêm.

        Việc đầu tư cho công tác bảo tồn, trùng tu di sản Huế mang lại hiệu quả không chỉ về văn hóa, xã hội, giáo dục truyền thống mà còn thực sự mang lại hiệu quả kinh tế, nhất là kinh tế du lịch và dịch vụ cho cố đô Huế và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Năm 1993, khi Huế được UNESCO công nhận mới có 243.000 lượt khách đến thăm di tích Huế, đến năm 2017 đã có hơn 3 triệu lượt khách, trong đó có 1,8 triệu khách quốc tế đến thăm và đem lại nguồn thu, riêng từ vé tham quan đạt 320 tỷ đồng. Năm 2018 dự kiến sẽ có gần 3,5 triệu khách, nguồn thu riêng từ vé là 370 tỷ, nếu tính từ năm 1996 cho đến nay riêng thu vé tham quan của di tích Huế đã được 1.800 tỷ đồng, còn doanh thu từ ngành du lịch, dịch vụ của tỉnh đạt được 3.300 tỷ, chiếm 55% GDP của toàn tỉnh. Như vậy, việc đầu tư cho công tác bảo tồn di sản thực sự mang lại hiệu quả về nhiều mặt, là khoản đầu tư công có lãi, có hiệu quả cao, không chỉ về kinh tế mà còn về chính trị, xã hội, an sinh. Đề nghị Quốc hội xem xét, bổ sung đưa vào kế hoạch tài chính năm 2019 kinh phí hỗ trợ cho đề án di rời dân cư ra khỏi khu vực 1 di tích kinh thành ngay từ năm 2019 cũng như có những chính sách, khoản đầu tư thích đáng cho công tác trùng tu, bảo tồn di sản cố đô Huế nói riêng và cho ngành văn hóa, thể thao du lịch nói chung.

Lượt xem: 739

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.