Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hà: Lộ mánh khóe doanh nghiệp chuyển giá

Tôi cho rằng, điệp khúc “được mùa-rớt giá”, khó khăn về thị trường tiêu thụ và phong trào “trồng-chặt bỏ” với bao hệ luỵ buồn đang và sẽ còn là bài toán chưa dễ tìm lời giải và không còn là câu chuyện của riêng một ngành hàng nông sản nào của Việt Nam. Bên cạnh đó hiện tượng chuyển giá là vấn đề cần được các nhà hoạch định chính sách tài chính quan tâm hơn nữa khi mà ngày càng xuất hiện DN thực hiện việc chuyển giá nhằm trốn thuế, gây thất thu ngân sách, thiệt hại cho nguời tiêu dùng và méo mó môi trường đầu tư…

Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hà phát biểu tại Hội trường Quốc hội

Trao đổi với phóng viên báo Hà Nội mới ngày 8-6, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội Nguyễn Thị Hồng Hà khẳng định, hiện tuợng chuyển giá (CG) ngày càng phổ biến trong các khu vực doanh nghiệp (DN), nhất là các DN có vốn nước ngoài và liên kết lợi ích xuyên biên giới.

- Thưa bà, bên cạnh những điểm sáng, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức lớn nào?

- Tôi cho rằng, điệp khúc “được mùa-rớt giá”, khó khăn về thị trường tiêu thụ và phong trào “trồng-chặt bỏ” với bao hệ luỵ buồn đang và sẽ còn là bài toán chưa dễ tìm lời giải và không còn là câu chuyện của riêng một ngành hàng nông sản nào của Việt Nam. Bên cạnh đó hiện tượng chuyển giá là vấn đề cần được các nhà hoạch định chính sách tài chính quan tâm hơn nữa khi mà ngày càng xuất hiện DN thực hiện việc chuyển giá nhằm trốn thuế, gây thất thu ngân sách, thiệt hại cho nguời tiêu dùng và méo mó môi trường đầu tư…

- Mánh khóe này thường được áp dụng ở những đơn vị nào, thưa bà?

- Đang có xu hướng mở rộng về quy mô, hình thức, đối tượng tham gia CG, bao gồm cả DN trong nước và DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), DN có lãi và hoà vốn với mức độ khác nhau, nhất là ở DN khai lỗ kéo dài, nhưng không ngừng mở rộng kinh doanh. Thậm chí, có nhiều tập đoàn và DN kinh doanh xuyên quốc gia nằm trong top 500 công ty lớn nhất thế giới, đầu tư vào Việt Nam đã hơn hai thập kỷ nay mà vẫn kêu lỗ, và tuyên bố sẽ tiếp tục lỗ cả chục năm nữa, dù đã có kế hoạch mở rộng đầu tư lớn, đồng nghĩa với không chịu nộp thuế như một thách thức cả về năng lực và trách nhiệm quản lý của ngành thuế nước nhà.

- Rõ ràng chuyển giá sẽ làm cho vấn đề cạnh tranh giữa các DN không được lành mạnh. Vì DN lớn có thương hiệu mạnh có thể dùng định giá chuyển giao để tạo ra sản phẩm với giá thành thấp, ép các DN yếu hơn, đặc biệt là những DN nội địa thuần túy. Theo bà, làm thế nào để nhận diện được chiêu trò này?

-Tôi cho là không dừng lại ở đây, CG còn làm sai lệch thông tin, tín hiệu thị trường, giảm sút sức hấp dẫn môi trường đầu tư, làm giảm hiệu quả chủ trương, chính sách quản lý nhà nước… Hoạt động CG thường ẩn dưới nhiều chiêu trò, thủ thuật. Nhưng điển hình là: khai tăng chi phí khấu hao và giảm thu nhập chịu thuế trên cơ sở nâng giá trị tài sản cố định, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu nhập khẩu, lãi suất vay vốn và chi phí bảo lãnh vay vốn chi phí trả lương, đào tạo, chi phí quảng cáo, bán hàng hoặc nâng giá trị chuyển giao các tài sản vô hình như công nghệ, bí quyết kỹ thuật, bản quyền, nhãn mác, kỹ thuật quản lý điều hành và các dịch vụ khác trong góp vốn đầu tư của DN; hoặc ngược lại, khai giấu doanh thu, chi phí và lãi thực, hạ giá bán sản phẩm đầu ra (thậm chí với giá thấp hơn giá thành sản xuất) cho một công ty liên kết, chịu lỗ hình thức kéo dài để trốn thuế.

- Để thoát khỏi tình trạng này, theo bà cần giải pháp gì, cơ quan nào phải chịu trách nhiệm chính?

- Tôi cho là chống CG là nhiệm vụ trực tiếp đầy thách thức của ngành thuế và các đơn vị chức năng hữu quan; đòi hỏi sự đồng bộ cả về nhận thức, quyết tâm và cách làm. Vì vậy, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm, uy tín, năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, trước hết trong ngành Thuế các cấp về chống CG, phải là nhiệm vụ và thước đo trách nhiệm quản lý nhà nước nói chung, trực tiếp của ngành Thuế nói riêng...

Đặc biệt, cần tiếp tục hoàn thiện Luật Quản lý thuế, trước hết là các quy định về quyền xác định giá, thương thảo giá trước; quyền ấn định thuế đối với các DN giao dịch liên kết có nghi ngờ CG, nổi bật là ghi giá bán trên hóa đơn thấp hơn giá giao dịch thông thường trên thị trường hoặc khai lỗ vượt vốn chủ sở hữu; cập nhật thường xuyên các chi phí khấu trừ để tính thu nhập chịu thuế đảm bảo rõ ràng, minh bạch, gắn với diễn biến chi phí thực tế thị trường quốc tế và Việt Nam. Song song đó kiện toàn và tăng cường năng lực nghiệp vụ, cơ sở vật chất, thông tin và trách nhiệm cần thiết của Tổ Quản lý thuế đối với hoạt động CG của Tổng cục Thuế và thành lập các nhóm chuyên trách chống CG ở các cấp địa phương; đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, tư vấn, hỗ trợ, đối thoại, kiểm tra, thanh tra và giám sát thường xuyên, định kỳ với các DN có dấu hiệu CG…

Chính phủ cũng cần tập trung chỉ đạo rà soát, đánh giá thực chất hiện trạng CG, xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của cá nhân, đơn vị để xảy ra những thiệt hại, lấy lại niềm tin trong nhân dân và DN.

Hà Phong/hanoimoi.com.vn

Lượt xem: 467

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.