Đại biểu Quốc hội Hà Nội góp ý vào dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển thành phố Hồ Chí Minh

Qua thảo luận, các đại biểu đánh giá, mặc dù nghị quyết mới chỉ là cơ chế chính sách đặc thù nhưng đã thể hiện quyết tâm đột phá để phát triển của TP Hồ Chí Minh, thể hiện quyết tâm cao, trách nhiệm của TP Hồ Chí Minh là sẵn sàng đi đầu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ngoài ra, việc thí điểm chính sách thực hiện trong Nghị quyết này còn có ý nghĩa là cơ sở thực tiễn để Quốc hội tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về tài chính, ngân sách quốc gia trong thời gian tới.

Sáng 20-11, tiếp tục chương trình kỳ họp, Quốc hội họp phiên toàn thể, thảo luận ở hội trường về dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển TP Hồ Chí Minh

Qua thảo luận, các đại biểu đánh giá, mặc dù nghị quyết mới chỉ là cơ chế chính sách đặc thù nhưng đã thể hiện quyết tâm đột phá để phát triển của TP Hồ Chí Minh, thể hiện quyết tâm cao, trách nhiệm của TP Hồ Chí Minh là sẵn sàng đi đầu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ngoài ra, việc thí điểm chính sách thực hiện trong Nghị quyết này còn có ý nghĩa là cơ sở thực tiễn để Quốc hội tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về tài chính, ngân sách quốc gia trong thời gian tới.

Đoàn ĐBQH TP Hà Nội có 2 đại biểu phát biểu ý kiến là ĐB Vũ Thị Lưu Mai và ĐB Nguyễn Quang Tuấn.

Đại biểu Quốc hội Vũ Thị Lưu Mai góp ý vào dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển thành phố Hồ Chí Minh

Đại  biểu Vũ Thị Lưu Mai cũng đồng tình với việc cần có chính sách đặc thù để TP Hồ Chí Minh phát triển hơn nữa, xứng đáng với Thành phố mang tên Bác. Tuy nhiên, việc ban hành luật tài sản để thí điểm ở TP Hồ Chí Minh cần hết sức cân nhắc. Theo đại biểu, đây là loại thuế có lịch sử lâu đời ở nhiều nước, chiếm phần quan trọng tổng thu từ thuế, ví dụ như Nhật Bản là 10%, Canada là 4%. Ở Việt Nam, thuế thu từ đất chỉ chiếm 0,03% GDP. Do đó, đại biểu kiến nghị cần có đạo luật áp dụng trên toàn quốc.

Nhấn mạnh nguyên tắc cơ bản trong quản lý thuế là công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế, đại biểu Vũ Thị Lưu Mai cho rằng, nếu áp dụng ở TP Hồ Chí Minh thì có sự khác biệt giữa người nộp thuế, ví dụ một người có nhà đất ở địa bàn khác thì không bị nộp thuế nhưng có ở TP Hồ Chí Minh thì phải thực hiện nghĩa vụ này. "Việc thí điểm cơ chế đặc thù cần sự khác biệt nhưng vấn đề nào tác động đến tâm lý, lợi ích người dân thì cần hết sức thận trọng”, đại biểu nêu quan điểm.

Khẳng định mục tiêu quan trọng khi ban hành nghị quyết là tăng cường tính hấp dẫn của TP Hồ Chí Minh, khắc phục việc kém thu hút đầu tư, nhưng theo đại biểu Vũ Thị Lưu Mai, nếu có thuế tài sản sẽ ảnh hưởng đến thị trường bất động sản, chứng khoán và chỉ số cạnh tranh, hấp dẫn thành phố này.

Băn khoăn về điều kiện cần và đủ để áp dụng thu thuế tài sản, đại biểu TP Hà Nội phân tích, kinh nghiệm các nước cho thấy cần có cơ sở dữ liệu hiện đại, chính sách về hiện trạng bất động sản, thường xuyên cập nhật biến động, việc sở hữu và chuyển giao. Cùng với đó là Nhà nước có sơ đồ chính xác; có sự định giá khoa học, hợp lý; có hệ thống chứng minh tài sản để tránh lách luật, trốn thuế.

Ngoài ra, phải có sự chuẩn bị về tâm lý đối với những người phải nộp thuế. Tuy nhiên, theo đại biểu, hiện nay khái niệm nộp thuế tài sản nhiều người còn chưa nắm rõ nên điều kiện cần và đủ chưa đồng bộ. "Sau khi thí điểm mà không áp dụng luật thuế tài sản trên toàn quốc thì người đã nộp thuế ở TP Hồ Chí Minh được tính toán thế nào? Có khi nào dừng đạo luật mà chưa áp dụng trên phạm vi toàn quốc? Thí điểm thì không tránh khỏi có sai sót và cần sửa chữa, cũng không quá cầu toàn nhưng cần thận trọng nhằm hội tụ đầy đủ các yếu tố để chính sách ban hành hợp lòng dân”, đại biểu Vũ Thị Lưu Mai nhấn mạnh.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Quang Tuấn góp ý vào dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách phát triển thành phố Hồ Chí Minh

Đại biểu Nguyễn Quang Tuấn cho rằng lương và thu nhập tăng thêm là động lực của sự phát triển, đồng thời đây là một điều kiện tiên quyết và vô cùng quan trọng để chống lại tham nhũng vặt, nhũng nhiễu, trây ì của cán bộ công chức. Chính vì thế, đại biểu Tuấn đóng góp vào khoản 3 Điều 6.

Thứ nhất, đề nghị bổ sung thêm, ngoài cán bộ công chức, viên chức thì nên bổ sung thêm người lao động. Vì chúng ta biết rằng có rất nhiều người không phải công chức, viên chức nhưng vẫn làm việc tại các cơ quan hành chính nhà nước, do vậy nên để cho các người lao động này được hưởng lợi ích từ thành phố mang lại.

Thứ hai, Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố hết sức phát triển và mức sống rất cao. Với mức sống cao như vậy trần 1,8 lần lương cơ bản tôi nghĩ rằng không hợp lý. Theo tôi, không nên để trần, không cào bằng mà nên giao quyền cho Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tự mình, tự quyền quyết định dựa trên cân đối thu chi ngân sách để trả lương cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, tùy theo khả năng đóng góp, hiệu quả công việc mà người ta đóng góp lại cho cơ sở, cho xã hội. Đây chính là điều kiện quan trọng để chúng ta không cào bằng, không bình quân chủ nghĩa để tạo động lực cho các cán bộ làm việc ngày càng tốt hơn.

Đại biểu Tuấn cũng tin tưởng rằng Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có bước đột phá, phát triển về kinh tế và khoa học ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, khi đưa ra một cơ chế đặc thù như thế này thì có rất nhiều các lợi thế của Thành phố Hồ Chí Minh và sẽ thu hút rất nhiều người lao động đến và tạo ra một sự di cư, có thể gọi nó là ồ ạt và tạo áp lực cho giao thông, cho trường học, cho bệnh viện. Đặc biệt là vấn đề mặt trái của sự phát triển, đó chính là những tệ nạn xã hội, liên quan đến nghiện hút ma túy, liên quan đến cướp giật. Các băng nhóm chắc chắn cũng kèm theo đó là hiện tượng bùng phát. Tôi rất mong muốn Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có một chiến lược đầy đủ để phát triển không chỉ về kinh tế, làm sao cho thành phố thật là yên bình, đáng sống để xứng đáng là một hòn ngọc Viễn Đông. Bên cạnh đó là giao thông quá tải, chúng tôi không đáng lo ngại. Tuy nhiên, quá tải về hàng không là một áp lực rất lớn, tạo ra vấn đề liên quan đến an toàn bay và nếu xảy ra tai nạn có thể là thảm họa. Do vậy, rất mong muốn Thành phố Hồ Chí Minh chú trọng hơn nữa trong vấn đề an toàn bay để đảm bảo thành phố không chỉ phát triển mà là thành phố đáng sống.

Lượt xem: 777

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.