Đại biểu Quốc hội Nguyễn Quang Tuấn đề xuất các chính sách cho vùng dân tộc miền núi

Thực hiện Chương trình kỳ họp, sáng ngày 24/10 tại phiên thảo luận Tổ về tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, ĐB Nguyễn Quang Tuấn bày tỏ tâm đắc nhưng cũng đầy trăn trở trước nhận định của Hội đồng Dân tộc đánh giá sự phát triển của vùng dân tộc miền núi có 5 cái nhất gồm: Có điều kiện khó khăn nhất, chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất, kinh tế - xã hội phát triển chậm nhất, tiếp cận các dịch vụ phúc lợi xã hội cơ bản thấp nhất, tỷ lệ nghèo cao nhất.

Thảo luận tại tổ sáng 24/10 về tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, ĐB Nguyễn Quang Tuấn bày tỏ tâm đắc nhưng cũng đầy trăn trở trước nhận định của Hội đồng Dân tộc đánh giá sự phát triển của vùng dân tộc miền núi có 5 cái nhất gồm: Có điều kiện khó khăn nhất, chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất, kinh tế - xã hội phát triển chậm nhất, tiếp cận các dịch vụ phúc lợi xã hội cơ bản thấp nhất, tỷ lệ nghèo cao nhất.

Mở đầu bài phát biểu tại buổi thảo luận tổ Đoàn ĐB Quốc hội TP Hà Nội, ĐB Nguyễn Quang Tuấn cho biết: “Tôi rất tâm đắc nhưng cũng bàng hoàng trước nhận định của Hội đồng Dân tộc đánh giá sự phát triển của vùng dân tộc miền núi có 5 cái nhất gồm: Có điều kiện khó khăn nhất, chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất, kinh tế - xã hội phát triển chậm nhất, tiếp cận các dịch vụ phúc lợi xã hội cơ bản thấp nhất, tỷ lệ nghèo cao nhất”.

ĐB Nguyễn Quang Tuấn tham gia thảo luận

ĐB đoàn Hà Nội đã trăn trở rất nhiều về 5 cái nhất này để tìm ra, đâu là nguyên nhân khách quan và chủ quan. Bởi theo ĐB, nguyên nhân khách quan thì khó điều chỉnh, còn nguyên nhân chủ quan chúng ta quyết tâm vẫn có thể giải quyết được.

Theo ĐB Nguyễn Quang Tuấn: Kinh tế - xã hội chậm phát triển nhất chắc chắn là nguyên nhân gây ra tỷ lệ nghèo của dân tộc thiểu số miền núi cao nhất, với trên 28%. Nguyên nhân khách quan và không thay đổi được là khu vực này có điều kiện tự nhiên khó khăn nhất, đặc biệt là khu vực Tây Bắc, vùng núi cao, ngắt đoạn, núi đá nhiều.

Tuy nhiên, có hai nguyên nhân chủ quan hoàn toàn có thể thay đổi được là: Chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất và tiếp cận dịch vụ phúc lợi cơ bản kém nhất. Đây là những điều kiện cơ bản hình thành 1 con người, 1 công dân có ích cho xã hội, đó là giáo dục đào tạo và tình trạng sức khỏe.

Theo báo cáo của Hội đồng Dân tộc, cho dù chúng ta có nhiều chương trình, dự án,  đã tiêu tốn hàng chục ngàn tỷ đồng, trong đó ưu tiên phát triển giá dục đào tạo cho khu vực đồng bào dân tộc miền núi, thiểu số; nhưng vẫn có tới 21% đồng bào dân tộc thiểu số ít người trên 15 tuổi mù chữ; hơn 1/5 đồng bào dân tộc thiếu số miền núi mù chữ; tỷ lệ học sinh miền núi tới trường PTHT mù chữ gần 42%.

“Như vậy, chắc chắn đồng bào miền núi, thiểu số sẽ bị bỏ lại phía sau trước sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghệ 4.0, nếu chúng ta không tập trung quyết liệt thay đổi giáo dục đào tạo, đặc biệt là xóa nạn mù chữ cho đối tượng này. Tôi cho rằng, Bộ GD&ĐT phải có rà soát sâu, rộng, chi tiết, thực tế, cụ thể để tham mưu cho Chính phủ có chính sách quyết liệt, hiệu quả hơn đối với đào tạo, giáo dục cho đồng bào dân tộc thiểu số và ít người”, ĐB Nguyễn Quang Tuấn nhấn mạnh.

Nguyên nhân chủ quan thứ hai hoàn toàn có thể thay đổi được mà ĐB Nguyễn Quang Tuấn đề cập là khả năng tiếp cận với dịch vụ xã hội cơ bản, trong đó có dịch vụ y tế cơ bản. ĐB cho biết: “Nhiều ĐB cũng giống tôi, rất bàng hoàng khi biết tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số ít người có tỷ lệ bao phủ bảo hiểm cao nhất với trên 93%; nhưng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của họ là kém nhất, chi trả bảo hiểm trên đầu người, đầu thẻ là thấp nhất”.

“Tại sao lại thế?”, ĐB đoàn Hà Nội đặt câu hỏi.

Theo ĐB, chúng ta có quá nhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân cơ bản là đối tượng này có quá nhiều bệnh không thể chữa được vì trình độ bác sĩ ở cơ sở có hạn, trong khi không đủ phương tiện kỹ thuật. Thậm chí, chúng ta phát hiện ra, chuẩn đoán ra bệnh nhưng không có đủ điều kiện, thuốc men để chữa cho bà con. Chính vì thế, chi trả trên đầu người, đầu thẻ ở đối tượng này rất thấp. Điều này cũng cho thấy sự mất công bằng trong lĩnh vực Bảo hiểm y tế.

Một vấn đề bất cập nữa được ĐB Nguyễn Quang Tuấn nói tới là có một số tỉnh, từ thôn, xã đến bệnh viện huyện xa hàng trăm km, có những nơi, phải mất 6 – 8 tiếng nếu đi quãng xa như vậy. Trước đây, có 1 số đơn vị phòng khám đa khoa trung tâm được phép điều trị nội trú cho bà con với cơ chế tương tự như một bệnh viện tuyến huyện, nhưng hiện nay không được phép điều trị nội trú qua đêm nữa. Do vậy, bà con rất khó tiếp cận với các dịch vụ y tế khi có cách trở về quãng đường, chuyên môn, phương tiện, đặc biệt là sự quan tâm chưa xứng đáng cho y tế cơ sở.

“Một điều bất công nữa là 70% bệnh nhân khám ở tuyến y tế cơ sở, nhưng Bảo hiểm y tế chỉ trả có 30% lượng tiền, trong khi 30% lượng bệnh nhân khám ở tuyến tỉnh, TP trực thuộc TƯ lại chi tới 70% số tiền bảo hiểm. Mặt khác, hiện nay, nhiều nơi vẫn chỉ coi y tế cơ sở là tuyến đầu, chỉ tiêm phòng, phòng dịch, nên quy định mức chi tiền cho y tế cơ sở chỉ từ 10% đến dưới 20% tổng số người bệnh đăng ký bảo hiểm tại cơ sở.

“Như vậy, vô hình chung chúng ta đã trói chặt cơ hội của đội ngũ những người ở y tế cơ sở muốn đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội, muốn đóng góp để nâng cao sức khỏe Nhân dân. Tôi mong Chính phủ sớm thay đổi chính sách liên quan đến đầu tư cho y tế cơ sở, đặc biệt là vấn đề tiếp cận y tế cơ sở của đồng bào dân tộc miền núi, ít người”, ĐB Nguyễn Quang Tuấn nhấn mạnh.

Để giải quyết được vấn đề giảm nghèo cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ĐB Hoàng Đức Thắng (Đoàn Quảng Trị) cho rằng, quan trọng là phải có đất đai- tài sản sinh tồn cho đồng bào sinh tồn, bởi hiện nay đất đai ở khu vực miền núi ngày cảng giảm để nhường đất cho các công trình quốc gia (thủy điện). Từ đó, nảy sinh việc thiếu đất ở, sản xuất, chất lượng đất cũng ngày cảng giảm. Vì vậy, khi đầu tư cần phải tính bài toán hiệu quả và có quỹ đất cho người dân canh tác để đảm bảo cuộc sống, sản xuất để phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, phải có chính sách hợp lý để kêu gọi các DN đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn miền núi để đồng bào có việc làm, vươn lên giảm nghèo, thoát nghèo.

Liên quan đến vấn đề này, ĐB Nguyễn Chí Dũng – Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư cho biết, việc phát triển vùng dân tộc miền núi là một bài toán rất khó đối với Chính phủ, tất cả hệ thống chính trị và các địa phương. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước rất quan tâm và có nhiều chính sách khuyến khích phát triển nhưng có nhiều khó khăn khách quan chi phối như: Yếu tố tự nhiên, địa lý, văn hóa, trình độ phát triển… Do đó, ĐB Nguyễn Chí Dũng bày tỏ mong muốn các địa phương tham vấn để các bộ, ngành có thể đưa ra các chính sách đặc thù cho từng vùng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội khu vực này hiệu quả, ổn định, bền vững.

 

Lượt xem: 940

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.