Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Được với những băn khoăn trong cơ chế xử lý tài sản tham nhũng; giải pháp sắp tới

Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) là dự án Luật nhận được rất nhiều sự quan tâm, đóng góp ý kiến từ các chuyên gia, các vị đại biểu Quốc hội, các nhà khoa học và nhân dân. Có nhiều đại biểu được nêu ý kiến tại Hội trường, bên cạnh đó cũng có nhiều đại biểu chưa được nêu ý kiến. Các ý kiến đóng góp của các đại biểu chưa được phát biểu tại hội trường cũng sẽ được gửi đến cơ quan soạn thảo. Đại biểu Nguyễn Văn Được đã trao đổi một số ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật này.

Để dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) thực sự tạo cơ sở pháp lý đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiệu quả, sát với thực tế, đảm bảo tính khả thi, Đại biểu Nguyễn Văn Được đã có nhiều nội dung góp ý tâm huyết, xác đáng như:

Thứ nhất, việc áp dụng Luật Phòng, chống tham nhũng đối với tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước

Việc mở rộng phạm vi áp dụng của dự thảo Luật ra khu vực ngoài Nhà nước theo đại biểu Được đây là vấn đề hợp lý. Theo đó, đối với các công ty đại chúng, tổ chức tín dụng, tổ chức xã hội cần quy định áp dụng một số chế định như: thực hiện công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động, kiểm soát xung đột lợi ích, trách nhiệm của người đứng đầu, minh bạch và kiểm soát tài sản, thu nhập đối với những người thuộc đối tượng phải kê khai. Tuy nhiên, đại biểu cũng đề nghị dự thảo cần làm rõ các nội dung kiểm soát tài sản, thu nhập khu vực ngoài nhà nước để đảm bảo tính khả thi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có điều kiện thanh tra, kiểm soát được việc phòng, chống tham nhũng trong khu vực này. Vì theo dự thảo (tại khoản 2 Điều 99 và khoản 2 Điều 102) thì công ty đại chúng, tổ chức tín dụng, tổ chức xã hội căn cứ vào quy định của Luật này để tự ban hành quy định việc kê khai tài sản, thu nhập và kiểm sát tài sản, thu nhập của những người đứng đầu (chủ tịch, giám đốc, trưởng ban kiểm tra, Kế toán trưởng…). Nếu họ tự ban hành thì sẽ mang tính hình thức, không làm triệt để thì không có tác dụng. Vì vậy, đề nghị không giao cho các doanh nghiệp, tổ chức xã hội khu vực ngoài nhà nước căn cứ vào Luật này để tự quy định và thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng mà giao cho Chính phủ quy định để áp dụng thống nhất.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Được (Ảnh Ngọc Ánh)

Thứ hai, về thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập

Đại biểu Được nhất trí với Phương án 2 vì phương án này quy định cụ thể, chi tiết hơn, đảm bảo tính khả thi của điều luật. Nếu theo Phương án 1 sẽ gây áp lực lớn lên cơ quan có trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu nhập (cơ quan thanh tra các cấp) vì theo dự thảo Luật phòng, chống tham nhũng (Điều 37) đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập tăng lên nhiều. Việc bổ sung biên chế, bộ máy cho cơ quan thanh tra không được vì đi ngược lại với Nghị quyết của Đảng về thu gọn bộ máy, tinh giảm biên chế. Mặt khác, việc giao cơ quan thanh tra kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, Tòa án, Viện kiểm sát cũng không phù hợp với cách thức tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay.

Thứ Ba, Về đối tượng kê khai tài sản

Đại biểu còn băn khoăn vì thực tế thời gian qua với diện kê khai như hiện nay, việc tổ chức kê khai, xác minh, kiểm soát tài sản, thu nhập còn nhiều bất cập, hình thức, hiệu quả chưa cao, kê khai nhiều nhưng phát hiện vi phạm ít, làm mất niềm tin của Nhân dân. Tới đây, diện kê khai tài sản, thu nhập gồm tất cả cán bộ, công chức thì liệu có kiểm soát được không? Đề nghị Chính phủ giải trình thêm, nhất là trong bối cảnh cả nước đang triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương VI của Đảng về thu gọn bộ máy, tinh giản biên chế.

Thứ Tư, về xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm mà người có nghĩa vụ kê khai không giải trình được một cách hợp lý

Đây là việc làm cần thiết phải xử lý tài sản, thu nhập không giải trình được một cách hợp lý về nguồn gốc. Tuy nhiên cách thức xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm đại biểu tán thành phương án 1 vì quy định chặt chẽ căn cứ, nội dung, trình tự, thủ tục xác minh tài sản, thu nhập, thủ tục, việc thành lập, quyền hạn của Tổ xác minh tài sản, thu nhập, nghĩa vụ của người được xác minh. Như vậy, để có kết luận về việc giải trình tài sản, thu nhập tăng thêm không hợp lý về nguồn gốc cơ quan có trách nhiệm xác minh tài sản, thu nhập phải tiến hành nhiều công việc, làm hết khả năng có thể. Vì vậy, để xem xét, quyết định về tính hợp lý của việc giải trình nên giao cho Tòa án. Với chức năng, quyền hạn của mình, với thủ tục tố tụng chặt chẽ, Tòa án sẽ có quyết định chính xác, khách quan.

Đối với Phương án 2 không giải quyết được triệt để. Nếu cho nộp thuế có nghĩa là Nhà nước phải công nhận tài sản hợp pháp, vô hình dung pháp luật thừa nhận việc tương tự như rửa tiền. Mặt khác, hiện nay ta chứ có luật về đánh thuế tài sản nên khó áp dụng.

Đề nghị Ban soạn thảo cần quy định tiêu chí làm căn cứ để xác định trường hợp nào được coi là tài sản, thu nhập “không giải trình được một cách hợp lý về nguồn gốc” để tránh việc áp dụng tùy tiện, thiếu thống nhất.

Thứ Năm, việc xử lý hành vi tham nhũng được phát hiện qua hoạt động thanh tra, kiểm toán

Để không mâu thuẫn với quy định tại Điều 35 Bộ luật tố hình sự năm 2015 về “Cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” và Điều 39 BLTTHS quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Đại biểu đề nghị nên phân định rõ các trường hợp người ra quyết định thanh tra từ cấp tỉnh trở lên, người ra quyết định kiểm toán được ra kết luận như sau:

- Trường hợp phát hiện hành vi có dấu hiệu tham nhũng và cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước tiến hành xác minh, làm rõ không có dấu hiệu tội phạm thì người ra quyết định thanh tra từ cấp tỉnh trở lên, người ra quyết định kiểm toán ra kết luận vụ việc;

- Trường hợp phát hiện hành vi có dấu hiệu tham nhũng và cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước tiến hành xác minh, nếu có dấu hiệu tội phạm thì người ra quyết định thanh tra, người ra quyết định kiểm toánchuyển ngay hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.

Thứ Sáu, trách nhiệm bảo vệ người cung cấp thông tin, phản ánh, tố cáo về tham nhũng

Việc bảo vệ người cung cấp thông tin, phản ánh, tố cáo về tham nhũng là rất cần thiết. Nội dung này được quy định chung chung tại khoản 2 Điều 5, chưa cụ thể. Cần quy định bảo vệ không chỉ người cung cấp thông tin, phản ánh, tố cáo về tham nhũng mà cần bảo vệ cả thân nhân của họ. Nếu không quy định thì không thể khuyến khích người dân tích cực phản ánh, tố cáo hành vi tham nhũng; hiệu quả phòng, chống tham nhũng sẽ không cao. Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định cụ thể hơn về trách nhiệm bảo vệ người cung cấp thông tin, phản ánh, tố cáo về tham nhũng, trong đó quy định rõ các biện pháp bảo vệ người cung cấp thông tin, phản ánh tố cáo về tham nhũng và thân nhân của họ.

Trên đây là một số trao đổi, góp ý của đại biểu Nguyễn Văn Được về dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi)./.

Lượt xem: 450

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.