Đại biểu Quốc hội Vũ Thị Lưu Mai: Việc xem xét quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn là vấn đề quan trọng, thể hiện quyền và trách nhiệm của Quốc hội, của đại biểu Quốc hội.

Tiếp theo chương trình kỳ hợp thứ Bảy Quốc hội khóa XIV, buổi sáng ngày 28/5/2019: Quốc hội nghe Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Đầu tư công; Thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Đầu tư công (sửa đổi).

Tiếp theo chương trình kỳ hợp thứ Bảy Quốc hội khóa XIV, buổi sáng ngày 28/5/2019: Quốc hội nghe Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Đầu tư công; Thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Đầu tư công (sửa đổi). Tại phiên thảo luận, Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai đã có ý kiến góp ý vào danh mục trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, việc quyết định danh mục thể hiện quyền của đại biểu Quốc hội, đó cũng là trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trước nhân dân vì trách nhiệm của đại biểu Quốc hội được quy định tại Điều 69, Điều 70 của Hiến pháp. Đại biểu minh họa:Trong giai đoạn 2016 - 2020 tổng chi ngân sách nhà nước là 8.025.000 tỷ. Riêng đầu tư phát triển chiếm 2.000.000 tỷ chiếm 25%. Việc quyết định danh mục cũng đồng nghĩa với việc quyết định phân bổ 2.000.000 tỷ. Trong tương lai, con số này có thể lớn hơn. Đây là tiền thuế của nhân dân là một khoản vốn rất lớn. Với vị trí là người đại diện cho nhân dân, Quốc hội không thể không thể không xem xét nội dung này.

 

Việc Quốc hội quyết định danh mục thể hiện tính thống nhất, tính hợp hiến hợp pháp. Tại Điều 70 Hiến pháp đã quy định rất rõ quyết định dự toán ngân sách và Điều 19 của Luật Ngân sách cũng quy định tương tự. Xét về bản chất, kế hoạch đầu tư công trung hạn và danh mục kèm theo chính là dự toán cho cả giai đoạn trung hạn, dự toán chi đầu tư phát triển. Nếu giao Chính phủ quyết định danh mục đầu tư công trung hạn đồng nghĩa với việc giao Chính phủ quyết định dự toán trung hạn. Điều này không phù hợp với Hiến pháp, ngược về quy trình, ngược về thẩm quyền, dẫn đến một nghịch lý đó là Quốc hội sẽ phải căn cứ vào danh mục mà Chính phủ đã quyết để ban hành dự toán hàng năm.

Về tính công khai, minh bạch. Công khai, minh bạch là yêu cầu căn bản, cũng là nguyên tắc đầu tiên trong phân bổ ngân sách. Chỉ có công khai, minh bạch mới khắc phục được cơ chế xin, cho; giảm được gánh nặng cho các địa phương trong đề xuất dự án. Việc trình Quốc hội chính là bảo đảm tính công khai, dân chủ, công bằng cho 63 tỉnh, thành phố,  các đại biểu Quốc hội có thể trực tiếp tham gia ý kiến và phương án phân bổ cho chính địa phương mình. Nếu Quốc hội không quyết định danh mục thì đó sẽ là một bước lùi trong phân bổ ngân sách. Trong lịch sử Quốc hội những năm gần đây, việc phân bổ kế hoạch đầu tư công, giao vốn cho các dự án, về cơ bản được thực hiện bởi Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Điều này thể hiện bằng các Nghị quyết 881, 726, 736, 26, 71 và không nên tạo ra một tiền lệ khác.

Về mặt logic, Quốc hội sẽ không thể thông qua tổng mức đầu tư nếu như không biết rằng nguồn tiền rất lớn đó được phân bổ cho mục tiêu nào, cho dự án cụ thể nào. Chính vì vậy, việc trình danh mục là căn cứ để Quốc hội xem xét quyết định tổng mức đầu tư.

Danh mục kế hoạch đầu tư công trung hạn không phải danh mục cứng mà hoàn toàn có thể điều chỉnh trong trường hợp cần thiết. Điều 75 Luật Đầu tư công hiện hành có quy định rất rõ các trường hợp được điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và đã phân cấp cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ trong những trường hợp cần thiết. Trên thực tế, 4 năm qua Chính phủ nhiều lần trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn. Lý do để trả lời cho câu hỏi việc trình Quốc hội có làm chậm tiến độ các dự án hay không?  4 năm qua kể từ khi thực hiện Luật Đầu tư công, các cơ quan của Quốc hội đã nhiều lần phải gửi văn bản đôn đốc các cơ quan của Chính phủ để đẩy nhanh tiến độ. Riêng Ủy ban Tài chính, Ngân sách đã không dưới 7 lần gửi văn bản tới các cơ quan của Chính phủ để đẩy nhanh tiến độ.

Nói về nguyên nhân việc giải ngân chậm, một số dự án chậm tiến độ. Qua giám sát thực tế và qua Báo cáo của Chính phủ thấy nguyên nhân chính là do tổ chức thực hiện, do triển khai giải phóng mặt bằng chậm, do năng lực nhà thầu còn hạn chế.  Nên lý do chậm tiến độ không nằm ở cơ quan lập pháp.

Vì vậy, việc xem xét quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn là vấn đề quan trọng, thể hiện quyền và trách nhiệm của Quốc hội, của đại biểu Quốc hội. Một Quốc hội hoạt động thực chất phải quyết định những vấn đề thiết thực, gắn liền với ngân sách nhà nước. Trong hội trường hôm nay có những luồng ý kiến trái chiều, trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng có những luồng thông tin trái chiều, nhưng cá nhân tôi luôn tin đại biểu Quốc hội sẽ có sự lựa chọn đúng đắn.

 

Lượt xem: 678

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.