Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai góp ý vào dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2018 và kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm quốc gia 2018-2020

Ngày 31.10, QH thảo luận tại Hội trường về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2017; kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2018 và kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm quốc gia 2018-2020.

Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai bày tỏ sự tán thành với rất nhiều nội dung trong báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội tại kỳ họp này, và cho rằng những kết quả trong 9 tháng qua rất đáng trân trọng, đặc biệt những kết quả trong công tác phòng, chống tham nhũng trong công tác cán bộ, một điểm sáng trong bức tranh về kinh tế, xã hội và có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố lòng tin của người dân vào Đảng, chính quyền và cũng tạo những động lực mới cho các cán bộ Đảng viên tin tưởng vào sự chỉ đạo đổi mới của đất nước.

Liên quan đến kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và ngân sách nhà nước, các báo cáo thẩm tra cũng đã đề cập đến rất nhiều vấn đề, đại biểu Mai đã đề cập đến ba vấn đề cụ thể:

Thứ nhất, một số yếu tố tác động đến thu, chi ngân sách trong kế hoạch tài chính 3 năm. Thực hiện quy định của Luật Ngân sách, tại kỳ họp này Quốc hội sẽ xem xét cho ý kiến về kế hoạch tài chính 3 năm. Với tính chất là một văn bản mang tính định hướng, tôi cho rằng nội dung của kế hoạch phải mang tính bao quát và tính dự báo, đánh giá thấu đáo những tác động của chính sách mới đối với quá trình quản lý ngân sách trong giai đoạn 2018 - 2020. Tuy nhiên qua xem xét cụ thể kế hoạch tài chính trung hạn, tôi nhận thấy Chính phủ cần phải bao quát hơn đối với một số chính sách mới tới đây Quốc hội sẽ ban hành. Cụ thể đó là những chính sách như dự án luật đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt áp dụng cho 3 khu vực: Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Tới đây Quốc hội cũng sẽ xem xét về cơ chế đặc thù cho thành phố Hồ Chí Minh và cũng có thể sẽ tiếp tục xem xét những cơ chế đặc thù cho một số thành phố khác.

Điều hiển nhiên đó là để hình thành được các đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt cũng như có cơ chế đặc thù cho những khu vực, những thành phố lớn thì đòi hỏi phải có nguồn lực rất lớn từ phía ngân sách nhà nước và để thực hiện thành công những chính sách ưu đãi về thuế thì chắc chắn ngân sách Trung ương cũng giảm đáng kể và để thực hiện điều tiết theo tỷ lệ cao hơn cho địa phương thì ngân sách trung ương sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Về cá nhân đại biểu cho rằng việc tạo lập một cơ chế tài chính đặc thù để phát triển những khu vực hành chính kinh tế và ban hành những cơ chế đặc thù đối với một số tỉnh, thành phố là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, tạo ra những bước đột phá trong quá trình phát triển kinh tế, tạo ra những cơ hội mới, những hình ảnh mới và những bước đi mới cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, để đảm bảo tính ổn định, bền vững của ngân sách nhà nước. Trước khi Quốc hội xem xét thông qua những nội dung này thì Chính phủ cần đánh giá cụ thể trên một số yếu tố. Như: Tính khả thi của phương án tài chính, theo đó Chính phủ tính toán cụ thể, có kịch bản cụ thể và đưa ra được những dự báo về khả năng hỗ trợ từ phía ngân sách nhà nước; cần tính toán tính khả thi của những chính sách ưu đãi; những chính sách mới phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể với kế hoạch tài chính 5 năm, kế hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch tài chính 3 năm. Có như vậy mới đảm bảo tính khả thi, tính hợp lý, tính hợp hiến, hợp pháp trong việc ban hành chính sách.

Vấn đề thứ hai là vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và việc phân cấp chi đầu tư. Ngày 21/10/2017 kết luận tại Hội nghị Trung ương 6 thì Trung ương Đảng đã quán triệt tiếp tục cải cách ngân sách nhà nước theo hướng đảm bảo ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, trên thực tế thời gian qua thì việc phân cấp chi đầu tư cũng tăng khá nhanh và điều đó phần nào ảnh hưởng đến vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong thời kỳ 2011-2015 cơ cấu chi ngân sách cho địa phương chiếm 73%, trong khi ngân sách trung ương chỉ chiếm 26%. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới thì Việt Nam là một trong số các quốc gia có tỷ lệ chi đầu tư địa phương cao nhất, bởi lẽ các nước đang phát triển thì mức chi đầu tư địa phương chỉ đạt 40%, trong khi của Việt Nam đạt 73%. Theo suy nghĩ cá nhân, tôi nghĩ việc đầu tư cho các địa phương là hoàn toàn cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế nông thôn.

Tuy nhiên, việc giảm tỷ lệ chi đầu tư trung ương khá nhanh trong những năm qua đã ảnh hưởng phần nào đến các mục tiêu quan trọng quốc gia và nhiều công trình quan trọng quốc gia hiện nay còn đang thiếu vốn và trải dài theo đất nước thì có rất nhiều công trình mang tính liên vùng, liên ngành còn đang dở dang, nhiều mục tiêu quan trọng quốc gia đang chờ nguồn lực đầu tư từ phía nhà nước. Vì vậy, tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta cần phải xem xét lại cơ cấu đầu tư hiện nay để có nguồn lực đầu tư cho những công trình quan trọng có tính liên ngành, liên vùng, có tính lan tỏa và đảm bảo đúng định hướng. Đó là ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo theo đúng định hướng của Đảng.

Vấn đề cuối cùng là việc sử dụng nguồn dự phòng ngân sách. Theo Nghị quyết số 26 về kế hoạch đầu tư công trung hạn, nguồn lực dự phòng của chúng ta là 200.000 tỷ đồng. Tại Báo cáo số 468 của Chính phủ trình bày trước Quốc hội ngày 23/10 vừa qua quan điểm của Chính phủ là do cân đối thu ngân sách Trung ương còn khó khăn nên chưa đặt vấn đề sử dụng nguồn lực dự phòng tại thời điểm hiện nay. Tiếp đó, tại Báo cáo số 466 ngày 18/10 gửi Quốc hội về kế hoạch tài chính 3 năm Chính phủ lại một lần nữa nhắc lại quan điểm là chưa sử dụng nguồn lực dự phòng để đảm bảo thực hiện nghiêm Nghị quyết 25 và Nghị quyết 26 của Quốc hội. Nghị quyết 25 và Nghị quyết 26 đã quán triệt cụ thể, đó là dự phòng ngân sách chỉ được sử dụng trong trường hợp nguồn thu ngân sách được đảm bảo và quản lý chặt chẽ sử dụng nguồn dự phòng, chỉ sử dụng trong những trường hợp cấp thiết, bất khả kháng theo quy định của Luật Ngân sách.

Tuy nhiên, khác với 2 báo cáo trên của Chính phủ, tại Tờ trình số 478 ngày 19/10 gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ có đề nghị cho sử dụng 30.000 tỷ đồng trong nguồn dự phòng đầu tư công trung hạn cho một số dự án ODA. Tiếp đó, tại Tờ trình số 495 ngày 23/10 vừa qua về báo cáo nghiên cứu khả thi dự án sân bay quốc tế Long Thành để phục vụ công tác đền bù, giải phóng mặt bằng đề nghị cho sử dụng 18.049 tỷ đồng. Như vậy, căn cứ vào các văn bản nêu trên tôi thấy về cùng một vấn đề, tại cùng một thời điểm nhưng quan điểm của Chính phủ khác nhau, nội dung trong một số báo cáo khác nhau, Quốc hội rất khó để xem xét quyết định về vấn đề sử dụng nguồn lực dự phòng. Để có cơ sở cho Quốc hội xem xét, quyết định sử dụng nguồn lực này chúng tôi đề nghị Chính phủ làm rõ quan điểm và thể hiện tính nhất quán về việc sử dụng nguồn lực này./.

Ngọc Ánh

Lượt xem: 747

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.