Đề nghị giữ nguyên tên “Chứng minh nhân dân” và phải đổi chứng minh nhân dân mới ngày 01/11/2016
Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014 của Quốc hội và Chương trình hoạt động của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội, để chuẩn bị cho kỳ họp thứ Tám, Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Căn cước công dân và tổng hợp các ý kiến góp ý cụ thể.
Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014 của Quốc hội và Chương trình hoạt động của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội, để chuẩn bị cho kỳ họp thứ Tám, Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Căn cước công dân và tổng hợp các ý kiến góp ý cụ thể. Đoàn ĐBQH Hà Nội tán thành về sự cần thiết phải ban hành Luật để phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến quyền con người, quyền công dân, đồng thời nâng cao hiệu lực pháp lý và đảm bảo yêu cầu hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về dân cư. Dự thảo Luật đã đảm bảo tính kế thừa những qui định còn phù hợp về Chứng minh nhân dân, đồng thời đã có sự đối chiếu, tham khảo, chọn lọc về quản lý cơ sở dữ liệu về căn cước công dân của một số nước phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, bảo đảm yêu cầu hội nhập quốc tế, yêu cầu về quản lý nhà nước về dân cư tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, khuyến khích nhân dân tích cực cung cấp các thông tin hoàn thiện Cơ sở dữ liệu căn cước công dân. Tuy nhiên, về tên gọi của dự thảo Luật và tên của thẻ, đa số ý kiến không tán thành về việc đặt tên “Căn cước công dân” như dự thảo Luật mà đề nghị giữ nguyên tên “Chứng minh nhân dân” vì cho rằng, tên gọi “Chứng minh nhân dân” đã quen thuộc với mọi người dân gần 40 năm qua, tất cả giấy tờ hành chính, hệ thống sổ sách theo dõi, phần mềm quản lý đều ghi số Chứng minh nhân dân, nếu thay đổi tên gọi thành “Căn cước công dân”sẽ phải thay đổi rất nhiều giấy tờ hành chính như sổ đỏ, bằng cấp, giấy chứng nhận trong hệ thống giáo dục, ngân hàng, giấy phép, chứng chỉ trong ngành giao thông, bảo hiểm, hộ khẩu… tác động đến từng hộ gia đình, từng cá nhân trong cả nước, sẽ làm phức tạp, lãng phí tiền của xã hội. Mặt khác, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, nhiều văn bản có liên quan đến số Chứng minh nhân dân, nếu thay đổi “Chứng minh nhân dân” thành “Căn cước công dân” sẽ phải thay đổi lại toàn bộ, rất phức tạp. Đề nghị thay cụm từ “Căn cước công dân” bằng cụm từ “Chứng minh nhân dân” tại các điều luật. Có ý kiến cho rằng Số định danh cá nhân là một vấn đề mới và hết sức quan trọng, tuy nhiên mới có Điều 12 Chương II đề cập đến Số định danh cá nhân, mà nội dung chỉ là giải thích từ ngữ. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu xây dựng một mục riêng quy định cụ thể về Số định danh cá nhân như: về giá trị pháp lý, phương thức xác lập, thủ tục, thẩm quyền cấp quản lý, sử dụng...và làm rõ tại sao lại là 12 số mà không phải là 9 số hay số khác? Đối với một số vấn đề cụ thể, thông tin về công dân được thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (Điều 9) có ý kiến cho rằng thông tin về công dân được coi là một bức tranh tổng thể về một công dân. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu cân nhắc quy định bổ sung các nội dung khác liên quan đến nhân thân của công dân như tình trạng tiền án, tiền sự…để thuận tiện cho cơ quan liên quan khi cần tra cứu dữ liệu. - Điểm m khoản 1: + Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định bắt buộc có thông tin nhóm máu vì để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan điều tra trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, chống tội phạm và trong trường hợp cấp cứu do tai nạn cần phải truyền máu. + Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu có quy định chặt chẽ về thông tin nhóm máu vì quy định như dự thảo Luật có đảm bảo được tính chính xác của thông tin do công dân cung cấp hay không? Việc công dân không cung cấp cho cơ quan quản lý liệu có đảm bảo tính cập nhật của thông tin không? Cơ quan nào xác nhận thông tin nhóm máu đó? + Có ý kiến đề nghị quy định trách nhiệm cung cấp thông tin về nhóm máu thuộc cơ sở y tế nơi trẻ được sinh ra. - Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định cụ thể việc tích hợp các thông tin công dân vào Cơ sở dữ liệu quốc gia phải đầy đủ, chính xác, đặc biệt là tích hợp kịp thời các thông tin về công dân khi họ có sự thay đổi về đặc điểm nhận dạng, lai lịch …(như thay đổi ngoại hình do phẫu thuật thẩm mỹ, hoặc thay đổi nơi thường trú…). - Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể mối quan hệ giữa cơ sở dữ liệu căn cước công dân với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Về quản lý khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (Điều 10) Điểm d, Khoản 2: Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc quy định “tổ chức và cá nhân khác được đề nghị khai thác thông tin về dân cư nhằm phục vụ mục đích hành chính dân sự” nhằm đảm bảo bí mật thông tin cho công dân, tránh việc các cá nhân tổ chức khác lạm dụng khai thác với lý do hành chính dân sự với mục đích xấu, theo đó dự thảo Luật quy định việc khai thác cơ sở dữ liệu này chỉ có hai loại chủ thể được thực hiện đó là: Cá nhân công dân khai thác phục vụ cho các giao dịch dân sự của mình hoặc cơ quan tổ chức khai thác khi thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Về số định danh cá nhân (Điều 12) Khoản 2: Có ý kiến cho rằng quy định “được cấp một lần duy nhất cho công dân” như dự thảo Luật là chưa chính xác, theo định nghĩa này thì một công dân chỉ được cấp một lần duy nhất thẻ Căn cước, điều này không phù hợp với thực tế vì trong quá trình sử dụng công dân có thể được cấp lại thẻ Căn cước. Đề nghị viết lại như sau: “Số định danh cá nhân là số tự nhiên 12 số, được cấp duy nhất một số cho công dân và được ghi trên thẻ căn cước công dân”. Về nội dung thể hiện trên thẻ Căn cước công dân (Điều 19) Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định vị trí ghi nhóm máu trên thẻ Căn cước công dân. Về giá trị sử dụng của thẻ Căn cước công dân (Điều 21) - Khoản 1: Có ý kiến đề nghị viết lại Khoản này để phù hợp xu thế cải cách hành chính hướng tới tất cả các loại giấy tờ dần tích hợp làm một như các nước tiên tiến đã làm đó là số định danh hay chứng minh nhân dân, được viết lại như sau: “Chứng minh nhân dân là giấy tờ tùy thân có giá trị pháp lý chứng minh căn cước, số định danh cá nhân …” - Khoản 4: Có ý kiến đề nghị bỏ quy định “không ai được giữ, tạm giữ thẻ căn cước công dân trừ trường hợp quy định tại Khoản 2, điều 29” vì nội dung này đã được quy định trong Điều 7 của dự thảo Luật quy định về các hành vi bị nghiêm cấm. Về trình tự, thủ tục cấp thẻ Căn cước công dân (Điều 24) - Khoản 1: + Điểm a: Có ý kiến cho rằng, thực tế hiện nay trong cả nước đang sử dụng hai loại chứng minh nhân dân loại 9 số và loại 12 số vì vậy đối với loại 9 số phải viết tờ khai theo mẫu, nhưng đối với loại 12 số chỉ phải ký vào tờ khai do đó đề nghị viết lại như sau: “a) Người đến làm thủ tục xuất trình giấy đề nghị cấp chứng minh nhân dân, viết (hoặc ký vào) tờ khai theo mẫu quy định”. + Có ý kiến cho rằng để tránh trường hợp công dân dùng căn cước của mình đi thế chấp, cầm cố nhiều lần gây nên phức tạp cho tình hình an ninh trật tự xã hội, đề nghị bổ sung quy định theo hướng nếu cấp lần đầu thì xuất trình giấy khai sinh, nếu cấp đổi thì xuất trình thẻ căn cước đã được cấp lần trước để cơ quan công an thu lại. - Khoản 2: + Nhiều ý kiến đề nghị chỉ cấp Căn cước công dân cho người đủ 14 tuổi trở lên vì người dưới 14 tuổi sử dụng giấy khai sinh, mà quyền được khai sinh của trẻ em được quy định trong Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, Bộ luật Dân sự và Công ước liên hợp quốc về quyền trẻ em. Mặt khác nếu dùng cả 2 loại sẽ phát sinh thêm thủ tục cho người dân, tốn kém cho Nhà nước, nếu cấp thẻ Căn cước công dân từ khi trẻ được khai sinh là rất khó vì trong giai đoạn từ khi được sinh ra đến 14 tuổi có sự thay đổi, phát triển sinh học của cơ thể diễn ra rất nhanh nên khó nhận dạng, không lấy được dấu vân tay và các đặc điểm cá nhân khác; Mặt khác trẻ dưới 14 tuổi chưa phải chịu trách nhiệm về hình sự, trong các giao dịch dân sự có cha mẹ hay người giám hộ đại diện theo luật đã qui định. Bên cạnh đó, việc cấp thẻ căn cước công dân cho trẻ từ khi sinh ra là thêm thủ tục cho công dân. + Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định theo hướng trẻ sinh ra, đồng thời với đăng ký khai sinh vẫn đăng ký thông tin của trẻ vào cơ sở dữ liệu đến khi trẻ đủ 14 tuổi sẽ được cấp thẻ Căn cước công dân đầy đủ với định dạng cá nhân như quy định của dự thảo Luật. Nơi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân (Điều 27) Khoản 4: Có ý kiến cho rằng, trong xu thế cải cách hành chính công tác cấp chứng minh nhân dân phải xuống tận cơ sở để cấp. Đề nghị bổ sung và viết lại như sau: “4. Tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, cơ quan, trường học, bệnh viện, nhà dân”. Thẩm quyền cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân (Điều 28) Đa số ý kiến đề nghị thẩm quyền cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân giao cho Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vì các lý do sau: + Sẽ rút ngắn được thời gian làm thẻ phù hợp với xu thế cải cách hành chính; + Để tập trung tại một chỗ nếu có thiên tai, địch họa ảnh xảy ra sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả nước, nếu giao thẩm quyền cho 63 tỉnh, thành phố hậu quả sẽ bớt nặng nề hơn; + Thực tế gần 40 năm qua việc cấp chứng minh nhân dân đều giao cho Công an các tỉnh, thành phố cấp và đã thực hiện tốt. Đề nghị viết lại như sau “Thủ trưởng cơ quan quản lý căn cước công dân của Bộ Công an, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền cấp, đổi, cấp lại Chứng minh nhân dân”. Về hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp (Điều 41) Khoản 2: Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định bắt buộc công dân, phải đổi căn cước công dân từ ngày 01/11/2016 để thống nhất trong quản lý và bổ sung thông tin của công dân vào cơ sở dữ liệu quốc gia đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Mặt khác lộ trình hơn 1 năm cũng đủ cho công tác điều chỉnh và triển khai để toàn dân thực hiện. Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội cũng thấy rằng, dự án Luật Căn cước công dân là dự án Luật mới, liên quan đến khoa học công nghệ, kỹ thuật và nhiều lĩnh vực, cơ quan khác nhau, đề nghị Ban soạn thảo đánh giá được tác động toàn diện của dự án Luật trên các phương diện kinh tế, xã hội, nhất là nguồn lực về tài chính, công nghệ và việc tác động đến hệ thống văn bản hành chính và văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, để triển khai thực hiện được ngay sau khi Luật có hiệu lực. Bên cạnh đó, đề nghị Ban soạn thảo và Ủy ban thẩm tra dự án Luật Căn cước công dân bố trí thời gian tham quan hệ thống công nghệ thông tin của Công an thành phố Hà Nội đã hoàn thành Chương trình cập nhật thông tin của công dân, để có thực tế trong quá trình tiếp thu và hoàn thiện dự án Luật Căn cước công dân trình kỳ họp thứ Tám sắp tới. Toàn văn báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Căn cước công dân xem tại đây. MINH TÚLượt xem: 79
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.