Đề nghị tăng nghĩa vụ quân sự lên 2 năm

Giải trình về đề xuất tăng của Bộ Quốc phòng lần này bị cơ quan soạn thảo đánh giá là "chưa thỏa đáng, cần có đánh giá tác động khách quan, khoa học và toàn diện hơn các mặt thuận lợi, tích cực và khó khăn, hạn chế của mỗi phương án để có sự lựa chọn phù hợp". Hiện cơ quan thẩm tra đang nghiêng về phương án quy định thống nhất thời gian phục vụ tại ngũ là 18 tháng.

Dự thảo luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi dự kiến thống nhất thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan, binh sĩ là 24 tháng.

Theo giải trình của Bộ Quốc phòng trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 14/8, Luật hiện hành đang quy định thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ là 18 tháng; hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do Quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân là 24 tháng.

Duyệt binh tại Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội

Nhưng hiện quân đội Việt Nam đã xây dựng các quân chủng Hải quân, Phòng không không quân và một số binh chủng cần xây dựng chính quy, hiện đại, nên thời hạn 18 tháng không đủ để huấn luyện chương trình, nội dung về giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chiến đấu của quân nhân và huấn luyện kỹ năng sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị.

"Ngoài ra còn phải thực hiện các nhiệm vụ khác do Đảng và Nhà nước giao như cứu hộ, cứu nạn, phòng chống thiên tai, công tác dân vận..., đã ảnh hưởng đến chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của quân đội. Vì vậy, thời hạn phục vụ tại ngũ 18 tháng không đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới", Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng nói.

Ông Thanh cũng cho biết quân đội Việt Nam đã được trang bị nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, đòi hỏi phải có đủ thời gian huấn luyện để làm chủ vũ khí, trang bị, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.

Việc có hai thời hạn phục vụ tại ngũ khác nhau (18 tháng và 24 tháng) cũng bất tiện cho công tác tuyển quân và giải quyết xuất ngũ, mỗi năm đều phải làm hai đợt, chi phối, ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ của quân đội, các địa phương, đơn vị, gây tốn kém về vật chất và thời gian.

Với đề xuất này, Uỷ ban Quốc phòng An ninh Quốc hội, cơ quan thẩm tra, chưa có ý kiến thống nhất. Bên cạnh ý kiến đồng thuận với Bộ Quốc phòng là các ý kiến đề nghị thời hạn thống nhất là 18 tháng, thậm chí có ý kiến đề nghị giảm đều thời hạn phục vụ tại ngũ xuống 12 tháng.

Thực tế từ năm 1981 đến nay, Luật Nghĩa vụ quân sự đã hai lần điều chỉnh thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ trong thời bình từ 3 năm xuống 2 năm và hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do Quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân từ 4 năm xuống 3 năm (luật sửa đổi, bổ sung năm 1990), sau đó là từ 24 tháng xuống 18 tháng đối với hạ sĩ quan, binh sĩ và từ 36 tháng xuống 24 tháng đối với hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do Quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân (luật sửa đổinăm 2005).

Giải trình về đề xuất tăng của Bộ Quốc phòng lần này bị cơ quan soạn thảo đánh giá là "chưa thỏa đáng, cần có đánh giá tác động khách quan, khoa học và toàn diện hơn các mặt thuận lợi, tích cực và khó khăn, hạn chế của mỗi phương án để có sự lựa chọn phù hợp".

Uỷ ban Quốc phòng An ninh nhấn mạnh các tiêu chí: Đáp ứng mục tiêu xây dựng, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội, kết hợp việc xây dựng lực lượng thường trực có số lượng hợp lý với xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu; Cụ thể hóa và thực hiện các nguyên tắc cơ bản liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, đặc biệt là bảo đảm công bằng xã hội; phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội...

Hiện cơ quan thẩm tra đang nghiêng về phương án quy định thống nhất thời gian phục vụ tại ngũ là 18 tháng.

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh trao đổi lại: Tâm lý chung của quân nhân đang tại ngũ 18 tháng hiện nay cũng là muốn thời gian ngắn hơn. "Nhưng để đảm bảo chất lượng huấn luyện và tính công bằng, việc thống nhất 24 tháng là cần thiết. Nhiều nước trên thế giới có thời hạn nghĩa vụ quân sự là 2-3 năm", ông Thanh nói. 

Chung Hoàng/vietnamnet

Lượt xem: 84

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.