Đoàn ĐBQH TP Hà Nội: Kết quả giám sát “Tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015 gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Qua giám sát cho thấy, trong giai đoạn 2010 - 2015, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Hà Nội đã quan tâm, tập trung, quyết liệt thực hiện xây dựng nông thôn gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn toàn Thành phố. Tính đến ngày 31/12/2015, 100% các xã của thành phố Hà Nội đã triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới, trong đó hơn 50% xã đạt chuẩn nông thôn mới, huyện Đan Phượng đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; 05 huyện khác đang hoàn tất thủ tục công nhận. Việc thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới góp phần phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn.

Vừa qua, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức Đoàn giám sát, làm việc với Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, UBND huyện Đan Phượng, UBND huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội và các cơ quan liên quan về tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2015 gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Qua giám sát cho thấy, trong giai đoạn 2010 - 2015, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Hà Nội đã quan tâm, tập trung, quyết liệt thực hiện xây dựng nông thôn gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn toàn Thành phố. Tính đến ngày 31/12/2015, 100% các xã của thành phố Hà Nội đã triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới, trong đó hơn 50% xã đạt chuẩn nông thôn mới, huyện Đan Phượng đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; 05 huyện đang hoàn tất thủ tục công nhận gồm: Thanh Trì, Hoài Đức, Đông Anh, Phúc Thọ, Gia Lâm. Toàn Thành phố đã thực hiện vượt chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra, ngành nông nghiệp Thủ đô đã được quan tâm, từng bước tái cơ cấu gắn với xây dựng nông thôn mới. Việc thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới góp phần phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn.

Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp nhiều nơi vẫn mang tính truyền thống là chính, do đó thu nhập còn thấp, không ổn định, kinh tế còn khó khăn, chưa tương xứng với tiềm năng của Thủ đô. Công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm, chưa vững chắc. Năng suất, sản lượng một số cây trồng, vật nuôi tuy tăng khá, nhưng chất lượng sản phẩm còn hạn chế, chưa có nhiều vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh quy mô lớn; việc nhân rộng các mô hình còn hạn chế.

Công tác nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới, nhất là ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp còn hạn chế; các chuỗi liên kết trong sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm còn ít; sản phẩm nông, lâm, thủy sản có chất lượng cao đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm chưa nhiều, chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Thủ đô. Công tác xúc tiến đầu tư hiệu quả thấp; cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, chưa thu hút được các hộ, các doanh nghiệp đầu tư, nhất là lĩnh vực chế biến nông sản, giết mổ gia súc, gia cầm; đầu ra sản phẩm nông nghiệp (chế biến, tiêu thụ sản phẩm) còn thiếu tính bền vững.

Toàn Thành phố còn 1.875,33 ha chưa dồn điền, đổi thửa; mặc dù một số huyện thực hiện vượt, hoàn thành hoặc cơ bản hoàn thành kế hoạch dồn điền, đổi thửa nhưng ở một số thôn vẫn còn vướng mắc, khiếu kiện vượt cấp, người dân chưa nhận ruộng, thậm chí bỏ ruộng hoang không sản xuất (huyện Thường Tín; Quốc Oai…)

Số xã hoàn thành nông thôn mới ở các huyện là chưa đồng đều. Trong khi một số huyện đã hoàn thành vượt chỉ tiêu phấn đấu, thì một số huyện kết quả còn thấp như: Mỹ Đức, Ba Vì, Chương Mỹ và Thị xã Sơn Tây.

Công tác tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới ở một số cơ sở còn hạn chế; vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về nội dung, phương pháp, cách làm trong xây dựng nông thôn mới, chủ yếu tập trung vào các tiêu chí xây dựng hạ tầng cơ sở, chưa chú ý đến các tiêu chí khác.

Nguồn lực đầu tư cho công tác xây nông thôn mới còn rất hạn hẹp, vẫn chủ yếu từ ngân sách nhà nước, công tác đấu giá đất còn gặp nhiều khó khăn do thị trường bất động sản đóng băng, việc thu hút được nguồn lực xã hội chưa nhiều. Bên cạnh đó, một số tiêu chí còn chưa phù hợp với thực tế. Trình độ cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu.

Hệ thống hạ tầng kinh tế - kỹ thuật nông thôn đầu tư còn chưa đồng đều giữa các địa phương và thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất và phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân; hạ tầng về giao thông nông thôn, thủy lợi, điện phục vụ sản xuất nhiều nơi còn khó khăn, nhất là ở những vùng xa trung tâm; công tác quản lý quy hoạch, quản lý xây dựng, quản lý đất đai khu vực nông thôn còn nhiều hạn chế, bất cập; vệ sinh môi trường nông thôn ở một số nơi chưa được quan tâm thường xuyên, nhất là các làng nghề.

Đặc điểm địa hình và dân cư nông thôn của thành phố Hà Nội khá phức tạp và đa dạng nên khó đáp ứng một số tiêu chí cụ thể, có tiêu chí không phù hợp...Các xã khi mới bắt tay triển khai thực hiện các tiêu chí còn lúng túng, việc lập đề án còn chưa sát thực tế nên nhiều xã phải điều chỉnh đề án. Việc huy động vốn trong dân, doanh nghiệp còn hạn chế. Các dự án phát triển sản xuất chậm triển khai nên hiệu quả còn thấp.

Đời sống và thu nhập của một bộ phận nông dân vùng xa trung tâm, thuần nông, vùng đồng bào dân tộc còn thấp, không ổn định, vẫn còn nhiều lao động thiếu việc làm, kinh tế còn khó khăn.

Chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu của nhân dân. Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch còn hạn chế; việc đào tạo nghề cho nông dân, nhất là nông dân ở những nơi bị thu hồi đất nông nghiệp, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu.

Sau giám sát, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội có một số kiến nghị, đề xuất đề nghị Chính phủ rà soát, sửa đổi đồng bộ các chính sách đã được ban hành đảm bảo tính khả thi, sát với thực tiễn như: Chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn; chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, chính sách hỗ trợ trong liên kết tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp... Đề nghị Chính phủ hỗ trợ có mục tiêu hoặc điều tiết nguồn thu lại cho Hà Nội như đã hỗ trợ các tỉnh, thành phố khác theo Chương trình xây dựng nông thôn mới. Đề nghị Chính phủ có hướng dẫn định hướng về cơ cấu nguồn vốn các dự án thành phần thuộc Đề án xây dựng nông thôn mới của xã, cụ thể về các nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp, vốn lồng ghép để các địa phương chủ động trong việc điều chỉnh đề án của các xã đảm bảo phù hợp với thực tiễn, dễ thực hiện. Đề nghị Chính phủ nghiên cứu sửa đổi quy định các địa phương phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ khi sử dụng đất trồng lúa vào mục đích khác theo Điều 16 của Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ về “quản lý, sử dụng đất trồng lúa” theo hướng thuận lợi hơn nhằm tạo thế chủ động trong khuyến khích phát triển vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung cho các địa phương...

Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm có hướng dẫn cụ thể về cơ chế xử lý nước thải, rác thải tại các làng nghề truyền thống để đảm bảo ổn định tiêu chí về môi trường trong xây dựng nông thôn mới.

Riêng đối với UBND thành phố Hà Nội, Đoàn đề nghị b trí cán b, công chức cp xã chuyên trách theo dõi v nông thôn mi theo ch đạo ca Th tướng Chính ph ti Quyết định 1996/QĐ-TTg ngày 04/11/2014. B trí ngân sách Thành phố trong công tác xây dựng nông thôn mới theo cơ cu đề án đã được phê duyệt; xây dựng cơ chế điều tiết kinh phí từ các quận, huyện, thị xã phát triển hỗ trợ các huyện khó khăn trong xây dựng nông thôn mới; xây dựng cơ chế cho UBND các huyn linh động vic s dng ngun kinh phí cp li t công tác đầu giá quyền sử dụng đất để cân đối ngun lc đầu tư h tng cho tt c các xã trên địa bàn trong công tác xây dng nông thôn mi. Đề nghị UBND Thành phố rà soát lại các văn bản quy phạm pháp luật về thực hiện các tiêu chí nông thôn mới, ban hành kịp thời các văn bản theo quy định; xem xét, điều chỉnh một số tiêu chí phù hợp với đặc điểm địa hình và tập quán sinh hoạt khu vực nông thôn; hướng dẫn quy trình thực hiện thủ tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất nông nghiệp để các huyện làm căn cứ triển khai thực hiện. Đề nghị Thành phố sm triển khai thc hin đề án phát triển nông nghiệp theo hướng công ngh cao…

Toàn văn báo cáo kết quả giám sát xem tại đây

MINH TÚ

Lượt xem: 548

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Kế hoạch giám sát, kiểm tra công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031

Tin hoạt động - Đoàn ĐBQH 1 ngày trước

Theo nội dung kế hoạch, mục đích của hoạt động giám sát, kiểm tra lần này là nhằm kịp thời nắm bắt tình hình triển khai công tác chuẩn bị bầu cử tại Trung ương và địa phương. Thông qua đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu việc tổ chức bầu cử phải tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật, các nghị quyết và hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia, góp phần đưa sự kiện ngày bầu cử 15/3/2026 thực sự trở thành “Ngày hội lớn của toàn dân”.Công tác giám sát cũng tập trung vào việc phát hiện sớm các khó khăn, vướng mắc để kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn và giải quyết; đồng thời phòng ngừa các sai sót, vi phạm có thể gây ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng cũng như tính minh bạch của cuộc bầu cử. Qua đó, kế hoạch kỳ vọng sẽ tăng cường hơn nữa trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ tham gia công tác bầu cử.Ủy ban Thường vụ Quốc hội xác định nội dung giám sát sẽ bao quát toàn bộ quá trình bầu cử, từ việc triển khai Chỉ thị của Bộ Chính trị, Luật Bầu cử đến các kế hoạch tổ chức cụ thể. Tùy vào tình hình thực tế, các Đoàn giám sát có thể kết hợp kiểm tra tình hình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội tại địa phương. Hình thức giám sát được thực hiện đa dạng, bao gồm việc xem xét, cho ý kiến về công tác bầu cử tại các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội định kỳ vào tháng 01, 02 và 03 năm 2026.Đáng chú ý, bên cạnh các đợt giám sát trực tiếp, Hội đồng bầu cử quốc gia cũng sẽ thực hiện giám sát theo chuyên đề, giám sát từ xa thông qua hệ thống công nghệ thông tin phục vụ bầu cử hoặc tổ chức kiểm tra đột xuất khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, khiếu nại, tố cáo.Kế hoạch nêu rõ việc thành lập các Đoàn giám sát do lãnh đạo Quốc hội và các thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia làm Trưởng đoàn, dự kiến chia thành 03 đợt cao điểm. Trong đó, đợt I từ ngày 05/01 đến 13/01/2026: Tập trung vào việc chỉ đạo, triển khai công tác bầu cử; thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử; kết quả hội nghị hiệp thương lần thứ nhất và việc giới thiệu người ứng cử. Đợt II từ ngày 04/02 đến 10/02/2026: Chú trọng kiểm tra việc tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai; lập danh sách sơ bộ những người ứng cử; việc lập và niêm yết danh sách cử tri cũng như công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.Đợt III từ ngày 02/3 đến 10/3/2026: Tập trung vào hội nghị hiệp thương lần thứ ba; niêm yết danh sách chính thức người ứng cử; vận động bầu cử; chuẩn bị cơ sở vật chất và các phương án bảo vệ an ninh, an toàn cho ngày bỏ phiếu.Riêng đối với Thủ đô Hà Nội, Đoàn giám sát đợt III sẽ do đồng chí Nguyễn Khắc Định, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Hội đồng bầu cử quốc gia làm Trưởng đoàn để kiểm tra công tác chuẩn bị trước ngày bầu cử.Để đảm bảo thông tin thông suốt, Ủy ban Công tác đại biểu được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan để tổng hợp kết quả, báo cáo trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng bầu cử quốc gia vào cuối mỗi đợt giám sát. Toàn văn kế hoạch mời xem tại đây