Đoàn ĐBQH TP Hà Nội: Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi)

Về tên gọi của dự thảo Bộ luật: Có ý kiến cho rằng tên gọi dự thảo nên quy định theo năm là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cho tương tự theo cách gọi của Hiến pháp. Ý kiến khác đề nghị sửa lại tên Chương I thành “Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Bộ luật Tố tụng dân sự” thay cho tên Chương là “Nhiệm vụ và hiệu lực của Bộ luật Tố tụng dân sự” để phù hợp với nội hàm của Chương này...

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 của Quốc hội và Chương trình hoạt động năm 2015, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) và tổng hợp các ý kiến góp ý.

Theo đó, các ý kiến đều tán thành với việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành. Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) được bố cục chặt chẽ, cơ cấu các phần, chương, mục hợp lý, văn phong pháp lý tương đối rõ ràng, dễ hiểu, có tính khả thi. Dự thảo đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nguyên tắc tổ chức hoạt động của Tòa án; tập hợp hóa các quy định trong các luật chuyên ngành và đã kế thừa văn bản quy phạm pháp luật tố tụng dân sự trước đây cũng như Bộ luật Dân sự hiện hành.

Về tên gọi của dự thảo Bộ luật: Có ý kiến cho rằng tên gọi dự thảo nên quy định theo năm là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cho tương tự theo cách gọi của Hiến pháp. Ý kiến khác đề nghị sửa lại tên Chương I thành “Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Bộ luật Tố tụng dân sự” thay cho tên Chương là “Nhiệm vụ và hiệu lực của Bộ luật Tố tụng dân sự” để phù hợp với nội hàm của Chương này.

Về cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự (Điều 6), có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo bổ sung 01 khoản với nội dung: “Quy định về nghĩa vụ chứng minh, chứng cứ của người sử dụng lao động trong vụ việc lao động.

Người sử dụng lao động có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ do mình quản lý theo yêu cầu của người lao động, tập thể người lao động đại diện Công đoàn và Toà án có thẩm quyền khi giải quyết vụ việc.

Người sử dụng lao động có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Toà án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ đã thu thập được và do người lao động, Công đoàn cung cấp.

Trong trường hợp Toà án cấp thẩm quyền giải quyết thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của một bên tranh chấp thì Toà án triệu tập người làm chứng phải tham dự phiên toà.

Trong trường hợp vụ việc lao động xảy ra giữa người lao động và người sử dụng lao động, không có vật chứng, không có người làm chứng thì lời khai của người lao động có giá trị như người làm chứng”.

Về hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự (Điều 11), Khoản 1: Có ý kiến đề nghị sửa khoản này thành “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”. Bên cạnh đó, “Nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp vào việc thực hiện nhiệm vụ của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, giải quyết việc dân sự của Thẩm phán dưới bất kỳ hình thức nào” – Khoản 2 Điều 12.

Về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng dân sự, cơ quan kiểm sát, người thực hiện nhiệm vụ kiểm sát (Điều 13). Khoản 1 : Có ý kiến đề nghị sửa thành “Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng dân sự, cơ quan kiểm sát phải tôn trọng đương sự, nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân”. Khoản 4: Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “theo yêu cầu chính đáng của họ” ở cuối khoản và nghiên cứu việc sử dụng cụm từ “giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc” vì không rõ nghĩa. Khoản 5: Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, bổ sung quy định: Nếu người tiến hành tố tụng dân sự, người thực hiện nhiệm vụ kiểm sát có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì người đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Về nguyên tắc giải quyết các vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng (Điều 45), có ý kiến đề nghị bổ sung quy định “Đối với những vụ việc phức tạp mà Tòa án không thể giải quyết ngay, có thể kiến nghị với Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét”.

Điểm b khoản 1 Điều 204 về thời hạn chuẩn bị xét xử, có ý kiến đề nghị sửa đoạn 2 của khoản này thành “Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử hai lần, nhưng mỗi lần không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đổi với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này”. Như vậy sẽ chặt chẽ và cụ thể hơn.

Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo sửa quy định về hình thức bố trí phòng xử án (Điều 225) theo hướng quy định cụ thể vị trí ngồi của Hội đồng xét xử, của Kiểm sát viên, thư ký phiên tòa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của các đương sự và những người khác tham dự phiên tòa để đảm bảo bình đẳng trong tranh tụng.

Ý kiến góp ý cũng đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định về số lần hoãn phiên tòa vì hiện nay trên thực tế có những vụ án dân sự Tòa án hoãn phiên toà 2-3 lần nhưng vẫn không giải quyết được. Và nghiên cứu nên quy định nội dung về tạm ngừng phiên tòa (Điều 260); Tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm (Điều 304) theo hướng tùy thuộc vào từng căn cứ ngừng để có quy định khác nhau. Ví dụ như việc ngừng để hai bên hòa giải trong một thời hạn nhất định, nếu không hòa giải được thì phiên tòa sẽ tiếp tục, nối tiếp với thời điểm ngừng; hoặc ngừng ở giai đoạn nào thì tiếp tục ở giai đoạn đó; Riêng trường hợp ngừng do phải thay người tiến hành tố tụng (thay Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân...) thi khi mở lại phiên tòa, phải bắt đầu thủ tục từ đầu.

Về cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trong dự thảo Bộ luật không quy định Viện KSND là cơ quan tiến hành tố tụng mà quy định một mục riêng, xác lập vị trí pháp lý độc lập cho Viện KSND với tư cách là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Có ý kiến đề nghị tiếp tục quy định Viện KSND là cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng dân sự vì pháp luật về tố tụng dân sự từ trước đến nay luôn khẳng định Viện KSND là cơ quan tiến hành tố tụng, không phụ thuộc vào việc có hay không có thẩm quyền khởi tố vụ án; Ngoài ra, Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 tiếp tục khẳng định chức năng, nhiệm vụ của Viện KSND trong tố tụng dân sự là cơ quan tiến hành tố tụng như quy định hiện hành. Vì vậy, không có căn cứ để thay đổi vị trí pháp lý của Viện KSND như trong dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự.

Cũng có ý kiến nhất trí về nội dung: Cơ quan Viện KSND, kiểm sát viên, kiểm tra viên không phải là cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Ở cấp sơ thẩm Viện KSND chỉ tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần và ở phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm kiểm sát viên khi phát biểu không đề xuất quyết định giải quyết vụ án dân sự. 

Về nội dung xét xử theo thủ tục rút gọn, một số ý kiến cho rằng việc bổ sung nội dung về giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn là cần thiết. Theo dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) thì vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn hiện nay được rút ngắn về thời gian; thành phần Hội đồng xét xử không phải là 3 thành viên mà chỉ còn 01 Thẩm phán; hòa giải không tiến hành một phiên riêng mà sẽ tiến hành tại phiên tòa... Như vậy, thời gian chuẩn bị giải quyết vụ án được rút ngắn rõ rệt, còn lại các trình tự, thủ tục về tố tụng khác vẫn đảm bảo như một phiên tòa bình thường.

Toàn văn báo cáo tổng hợp của Đoàn ĐBQH TP

MINH TÚ

Lượt xem: 508

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.