Đoàn ĐBQH TP Hà Nội: Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Tạm giữ, tạm giam

Các ý kiến đều nhất trí, tán thành về sự cần thiết ban hành Luật Tạm giữ, tạm giam nhằm tháo gỡ những khó khăn, hạn chế, bất cập, bảo đảm hiệu quả công tác quản lý giam giữ để phục vụ có hiệu quả cho công tác điều tra, truy tố xét xử và thi hành án. Đặc biệt, dự thảo Luật đã cụ thể hóa các quy định tại chương II Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 của Quốc hội và Chương trình hoạt động của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội năm 2015. Để chuẩn bị cho kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Tạm giữ, tạm giam và tổng hợp các ý kiến góp ý.

Các ý kiến đều nhất trí, tán thành về sự cần thiết ban hành Luật Tạm giữ, tạm giam nhằm tháo gỡ những khó khăn, hạn chế, bất cập, bảo đảm hiệu quả công tác quản lý giam giữ để phục vụ có hiệu quả cho công tác điều tra, truy tố xét xử và thi hành án. Đặc biệt, dự thảo Luật đã cụ thể hóa các quy định tại chương II Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.

Về tên gọi của Luật, đa số ý kiến đề nghị sửa tên Luật thành “Luật Tạm giữ, tạm giam” để bao quát hết phạm vi điều chỉnh quy định tại Điều 1 của dự thảo Luật.

Có ý kiến đề nghị bổ sung giải thích các thuật ngữ: “tra tấn”, “truy bức”, “dùng nhục hình”, “trừng phạt tàn bạo”, “vô nhân đạo”, “hạ nhục con người”, “bệnh truyền nhiễm nhóm A” để có căn cứ, cơ sở khi áp dụng Luật trên thực tế.

Về trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành tạm giữ, tạm giam (Điều 5), có ý kiến cho rằng quy định tại Điều này không cụ thể, chỉ mang tính nguyên tắc chung, chưa quy định rõ về hình thức, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, nên khi áp dụng vào thực tế sẽ không khả thi, dễ dẫn đến tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Đề nghị Ban soạn thảo quy định cụ thể ngay trong dự thảo Luật.

Về những hành vi bị nghiêm cấm (Điều 8), ý kiến cho rằng quy định như dự thảo Luật là chưa rõ ràng, dễ gây nhầm lẫn các hành vi bị cấm của hai chủ thể khác nhau: Người có thẩm quyền quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và người bị tạm giữ, tạm giam. Đề nghị tách thành 2 nội dung: Quy định hành vi cấm đối với người bị tạm giữ, tạm giam; Quy định hành vi cấm đối với người có thẩm quyền quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam.

Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, cân nhắc quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam tại Điều 9, điểm e khoản 1 vì nếu để người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện giao dịch dân sự về tài sản sẽ xảy ra trường hợp tẩu tán tài sản.

Có ý kiến đề nghị sửa tên Điều 13 thành “Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và cơ cấu tổ chức của Trại tạm giam”, Điều 14 thành “Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và cơ cấu tổ chức của Nhà tạm giữ” cho phù hợp với khoản 3, 4 Điều 13, khoản 4, 5 Điều 14 quy định về trách nhiệm của giám thị trại giam, phó giám thị trại giam, trưởng nhà tạm giữ, phó trưởng nhà tạm giữ, người thi hành tạm giữ, tạm giam.

Về thực hiện trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam (Điều 20, điểm đ khoản 3): Có ý kiến cho rằng quy định này là không hợp lý vì trên thực tế lệnh trích xuất do Phó trưởng Công an huyện kiêm Trưởng nhà tạm giữ ký và sử dụng con dấu của Công an huyện, vì vậy, trong trường hợp cấp cứu hoặc khám bệnh ngoài giờ hành chính thì không thể có ngay lệnh trích xuất có chữ ký và đóng dấu của Trưởng nhà tạm giữ.

Về việc gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự của người bị tạm giữ, người bị tạm giam (Điều 22): Khoản 3, có ý kiến đề nghị bổ sung quy định rõ lượng thời gian người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, tạm giam tránh tùy nghi trong quá trình thực hiện; điểm e khoản 4, một số ý kiến cho rằng không nhất thiết người thăm gặp phải được trực tiếp gặp người bị tạm giữ, tạm giam để xác nhận việc người bị tạm giữ, tạm giam không đồng ý thăm gặp, trường hợp này cơ sở giam giữ chỉ cần lập biên bản, có xác nhận của người bị tạm giữ, tạm giam và thông báo cho người thăm gặp biết; khoản 5, có ý kiến đề nghị bổ sung nội dung “Trường hợp đã thông báo cho cơ quan thụ lý vụ án về việc thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam mà cơ quan thụ lý vụ án không có ý kiến hoặc không cử người phối hợp giám sát, theo dõi thì thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định việc thăm gặp; khoản 6: một số ý kiến đề nghị quy định chi tiết việc thăm gặp người bị tạm giữ, tạm giam là người nước ngoài ngay trong dự thảo Luật chứ không giao Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

Về giải quyết trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết (Điều 26), có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về việc cho đại diện gia đình người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết chứng kiến việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi để đảm bảo tính khách quan; ý kiến khác cho rằng dự thảo Luật mới chỉ xác định nguyên nhân chết và thông báo cho thân nhân, người đại diện hợp pháp biết chứ chưa quy định rõ nguyên nhân chết có khách quan, chính xác không và nếu nguyên nhân chết không xuất phát từ phía người bị tạm giam, tạm giữ mà nguyên nhân do cơ sở tạm giữ, tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng hay do người giam giữ chung... thì sẽ giải quyết như thế nào, đề nghị phải có quy định cụ thể.

Ngoài ra, có ý kiến cho rằng dự thảo Luật còn có nhiều nội dung giao cho Chính phủ ban hành văn bản quy định chi tiết, như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu lực thi hành của Luật nếu Chính phủ, các Bộ, ngành chậm ban hành Nghị định, Thông tư hướng dẫn. Đề nghị Ban soạn thảo rà soát và quy định cụ thể các nội dung ngay trong Luật…

Toàn văn tổng hợp góp ý của Đoàn ĐBQH TP Hà Nội

MINH TÚ

Lượt xem: 487

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.