Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Dự thảo Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi) gồm 22 Điều, được bố cục thành 5 Chương. Những nội dung cụ thể của từng chương được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng những yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho công tác quản lý thuế trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Dự thảo đã bổ sung các quy định về các biện pháp phòng vệ về thuế vào dự thảo Luật để bảo đảm giá trị pháp lý của các quy định này, phù hợp với thông lệ quốc tế đồng thời để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật với các văn bản có liên quan đã được ban hành mới hoặc sửa đổi như Hiến pháp năm 2013, Luật Đầu tư, Luật Quản lý thuế, Luật Hải quan…

Ngày 23/02/2016, Đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi). Đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hà, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì hội nghị. 

Dự thảo Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi) gồm 22 Điều, được bố cục thành 5 Chương. Những nội dung cụ thể của từng chương được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng những yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho công tác quản lý thuế trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Dự thảo đã bổ sung các quy định về các biện pháp phòng vệ về thuế vào dự thảo Luật để bảo đảm giá trị pháp lý của các quy định này, phù hợp với thông lệ quốc tế đồng thời để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật với các văn bản có liên quan đã được ban hành mới hoặc sửa đổi như Hiến pháp năm 2013, Luật Đầu tư, Luật Quản lý thuế, Luật Hải quan…

- Về sự cần thiết ban hành Luật, đa số ý kiến các đại biểu cho rằng việc ban hành Luật thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu (sửa đổi) là cần thiết vì qua 10 năm thực hiện Luật đã bộc lộ một số tồn tại (như Tờ trình số 473/TTr- CP ngày 07/10/ 2015 của Chính phủ đã nêu) cần khắc phục, sửa đổi để đảm bảo tính đồng bộ, hoàn thiện trong hệ thống pháp luật và đáp ứng các yêu cầu của quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính, hội nhập quốc tế, đặc biệt là khi Hiến pháp 2013 đã có hiệu lực. Việc xem xét, ban hành luật mới nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ và nội luật hóa các cam kết quốc tế để khuyến khích phát triển sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu; bảo hộ hợp lý, có điều kiện, có chọn lọc phù hợp với tiến trình hội nhập. Đồng thời, đáp ứng yêu cầu cải cách về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo hướng minh bạch, đơn giản, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại là hết sức cần thiết và cấp bách khi mà chúng ta đã trở thành một trong các bên tham gia ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) như Hiệp định TPP, Hiệp định Việt Nam - EU,..

- Về đối tượng chịu thuế: Đại diện Cục hải quan Hà Nội đề nghị Ban soạn thảo rà soát tất cả các lĩnh vực để không bỏ sót đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế để quy định chặt chẽ hơn tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế.

- Về thời hạn nộp thuế : Đại diện Hội Luật gia Hà Nội cho rằng dự thảo luật quy định thời hạn “...phải nộp tiền chậm nộp kể từ ngày được thông quan hoặc giải phóng hàng hóa đến ngày liền kề trước ngày nộp thuế theo quy định tại Luật Quản lý thuế…” là chưa phù hợp với điểm c khoản 3 Điều 42 được sửa đổi bổ sung tại khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế (“Trường hợp được tổ chức tín dụng bảo lãnh số thuế phải nộp thì được thông quan hoặc giải phóng hàng hóa nhưng phải nộp tiền chậm nộp kể từ ngày được thông quan hoặc giải phóng hàng hóa đến ngày nộp thuế theo quy định tại Điều 106 của Luật này”). Đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu để quy định thống nhất thời hạn nộp thuế đối với trường hợp được tổ chức tín dụng bảo lãnh số thuế phải nộp.

- Về thẩm quyền ban hành biểu thuế, thuế xuất: theo đại diện Sở tư pháp Hà Nội dự thảo luật quy định giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung Biểu thuế xuất khẩu theo Danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất thuế xuất khẩu đối với từng nhóm hàng ban hành kèm theo Luật này là chưa phù hợp với quy định tại khoản 1 (Quốc hội ban hành bằng Luật) và chưa rõ cơ chế giám sát (không quy định việc Ủy ban thường vụ Quốc hội phải báo cáo lại Quốc hội tại kỳ họp gần nhất). Do đó, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu lại cơ chế này cho phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội.

- Về hiệu lực thi hành: Đa số các đại biểu cho rằng dự thảo Luật có 22 điều song có tới 09 nội dung giao Chính phủ, các Bộ hướng dẫn hoặc quy định chi tiết (07 nội dung giao Chính phủ gồm: khoản 1,2 Điều 11; khoản 5 Điều 15; Điều 16; điểm b khoản 1 Điều 17; khoản 1, 2 Điều 19 và 02 nội dung giao Bộ Công thương (khoản 3 Điều 15), Bộ Tài chính( khoản 4 Điều 15). Trong khi đó dự thảo luật quy định thời gian Luật có hiệu lực là 01/9/2016 là chưa phù hợp, chưa đủ thời gian để các cơ quan liên quan có kịp chuẩn bị các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để cụ thể hóa những nội dung được Quốc hội giao. Đề nghị Ban soạn thảo sửa lại thời điểm Luật có hiệu lực là 01/01/2017 .

Các ý kiến đóng góp tại Hội nghị đã được Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố tiếp thu, tổng hợp và chuyển đến Ủy ban thường vụ Quốc hội theo quy định./.

Ngọc Ánh 

Lượt xem: 172

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.