Dự thảo Luật Giao thông đường thủy nội địa: Cần làm rõ phạm vị điều chỉnh

Sáng ngày 13/3, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức Hội nghị lấy ý kiến Đại biểu Quốc hội và các cơ quan liên quan đóng góp vào Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa. Chủ trì hội nghị có ông Chu Sơn Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH Thành phố Hà Nội và Lê Bộ Lĩnh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.

Sáng ngày 13/3, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức Hội nghị lấy ý kiến Đại biểu Quốc hội và các cơ quan liên quan đóng góp vào Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa. Chủ trì hội nghị có ông Chu Sơn Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH Thành phố Hà Nội và Lê Bộ Lĩnh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.

Các đại biểu phát biểu đóng góp ý kiến vào dự thảo Luật 

Tại Hội nghị, ông Dương Ngọc Tiến, Phó Cục trưởng Cục cảnh sát đường thủy, Bộ Công an cho biết, khái niệm đường thủy nội địa trong Dự thảo Luật chưa thống nhất trong nhận thức, mỗi người có những cách hiểu khác nhau. Khái niệm “Đường thủy nội địa” quy định tại khoản 4 điều 3 của Luật Giao thông đường thủy nội địa năm 2004 mới chỉ bó hẹp trong phạm vi “luồng” và những tuyến đường thủy “được tổ chức quản lý, khai thác giao thông vận tải”, quy định như vậy là chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn về địa bàn hoạt động của phương tiện tàu thủy chưa được công bố rất nhiều. Hiện nay cả nước có 3.551 sông kênh với chiều dài 85.577 km.

Cũng tại khoản 2 điều 3 Luật Giao thông đường thủy nội địa năm 2004 quy định “Luồng chạy tàu thuyền là vùng nước được giới hạn bằng hệ thống báo hiệu đường thủy nội địa để phương tiện đi lại thông suốt, an toàn”. “Luồng” chỉ là một phần của phần nước thực tế, nhưng phương tiện tàu thủy không phải lúc nào cũng chỉ hoạt động trong luồng, khi phương tiện tàu thủy hoạt động tại vùng nước ở ngoài luồng mà xảy ra các trường hợp liên quan đến tai nạn như chìm đắm phương tiện, chết người… thì việc áp dụng văn bản pháp luật để xử lý của các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn, phức tạp.

Ông Nguyễn Văn Cương, Phòng Cảnh sát đường thủy, Công an Thành phố Hà Nội cho biết tai nạn giao thông đường thủy nội địa là sự việc bất ngờ xảy ra và liên quan đến hoạt động giao thông đường thủy nội địa. Cần quan niệm tai nạn là sự việc mang tính bất ngờ, đột xuất, nằm ngoài ý thức chủ quan của cả người gây tai nạn và những người liên quan đến vụ tai nạn. Ngoài ra cần xác định một sự việc xảy ra trên tuyến giao thông đường thủy đã gây ra thiệt hại vật chất cụ thể về sức khỏe, tính mạng, tài sản của con người, đặc biệt quan trọng là xác định việc xảy ra có phải là hoạt động giao thông đường thủy nội địa của con người hay không?

Ngoài ra, nhiều đại biểu cho rằng Ban soạn thảo cần rà soát kỹ hơn về phạm vi sửa đổi, bổ sung của Dự án Luật, nhận diện đầy đủ hơn những hạn chế, bất cập để trên cơ sở đó sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan về quy hoạch và quản lý kết cấu hạ tầng, các quy định về “đường thủy nội địa”, “hành lang bảo vệ luồng”, đăng ký, đăng kiểm phương tiện giao thông đường thủy nội địa, điều kiện tham gia hoạt động đường thủy nội địa, cứu hộ, cứu nạn, bảo đảm an toàn giao thông đường thủy nội, phạm vi trách nhiệm và cơ chế phối hợp trong quản lý nhà nước về hoạt động giao thông đường thủy nội địa.

Một số đại biểu kiến nghị, cần quy định đường thủy nội địa bao gồm các tuyến đường thủy có khả năng khai thác giao thông vận tải trên các sông, kênh, rạch, cửa sông, hồ, ven vịnh, ven bờ biển, đường ra đảo, đường nối các đảo thuộc nội thủy nước ta…

Lãnh đạo Đoàn ĐBQH TP Hà Nội tiếp thu các ý kiến đóng góp

Kết thúc hội nghị, thay mặt Đoàn ĐBQH Thành phố, ông Chu Sơn Hà, Phó Trưởng Đoàn đã tiếp thu và đánh giá cao những ý kiến đóng góp tâm huyết của các đại biểu tham dự Hội nghị và khẳng định, những kiến nghị này sẽ được Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổng hợp trình lên Ban soạn thảo để nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung vào các điều, khoản của Luật và trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tới.

THANH HÀ         

Lượt xem: 109

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.