Góp ý dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình: Đề nghị bình đẳng trong độ tuổi kết hôn

Theo quan điểm của Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội, qua nhiều lần chỉnh sửa, dự thảo đã có những bước tiến quan trọng, đạt được mục tiêu lâu dài là xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Trong 2 phương án về tuổi kết hôn Ban soạn thảo đề xuất, nhiều đại biểu đề nghị chọn phương án 1 nữ từ đủ 18 tuổi và nam từ đủ 20 tuổi; Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội đề nghị chọn giải pháp nam nữ đủ 18 tuổi trở lên...

Sáng 27/2, Đoàn ĐBQH Thành phố Hà Nội đã tổ chức hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào Luật Hôn nhân và gia đình (sửa đổi). Đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hà Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chủ trì, cùng sự tham dự của các vị ĐBQH trong Đoàn, đại diện lãnh đạo, chuyên gia của một số sở, ban ngành, quận huyện, phường trên địa bàn Thành phố và trường Đại học có liên quan.

Phó Trưởng đoàn Nguyễn Thị Hồng Hà chủ trì hội nghị

Theo quan điểm của Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội, qua nhiều lần chỉnh sửa, dự thảo đã có những bước tiến quan trọng, đạt được mục tiêu lâu dài là xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Trong 2 phương án về tuổi kết hôn Ban soạn thảo đề xuất, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội đề nghị chọn giải pháp nam nữ đủ 18 tuổi trở lên. Theo cơ quan này, trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống, góp phần nâng cao thể chất và trí tuệ của người Việt Nam, nên việc quy định nam từ đủ 20 tuổi mới được kết hôn là không còn phù hợp với thực tiễn. Nếu giảm tuổi kết hôn của nam giới hiện nay xuống 2 tuổi sẽ bảo đảm bình đẳng giới và sự đồng bộ, thống nhất với các quy định của Bộ luật Dân sự, pháp luật về tố tụng dân sự và các luật có liên quan khác.

Tuy nhiên, đại diện trường Đại học Luật Hà Nội, ông Nguyễn Văn Cừ - Trưởng Khoa Pháp luật dân sự cho rằng về điều kiện kết hôn thì ông đồng  ý với phương án 2 của Dự thảo về độ tuổi kết hôn nhằm đảm bảo sự tương thích với các văn bản pháp luật khác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Ông Cừ đề nghị theo phương án 1, tuổi kết hôn với nữ giới từ đủ 18 tuổi trở lên và nam giới từ đủ 20 tuổi trở lên. Độ tuổi này được thực hiện từ khi có Luật Hôn nhân và Gia đình từ năm 1959 đến nay. Tại hội nghị đa số ý kiến đồng ý chọn phương án này. Về điều kiện kết hôn trong Dự thảo nêu “không bị mất năng lực hành vi dân sự”, thì nên sửa đổi thành “không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không có khả năng nhận thức được hành vi của mình” nhằm đảm bảo thuận lợi trong thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật.

Về việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, Dự thảo Luật cần phân định rõ những trường hợp chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn bị coi là chung sống như vợ chồng trái pháp luật (vi phạm điều cấm: tảo hôn, đang có vợ hoặc có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác, chung sống giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời). Từ đó, xác định diện những chủ thể được quyền yêu cầu toà án quyết định buộc các bên phải chấm dứt hành vi chung sống như vợ chồng trái pháp luật đó và những trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn nhưng không bị coi là trái pháp luật.

Về ly thân: Dự thảo Luật chưa bao quát được toàn bộ vấn đề phát sinh xung quanh việc ly thân (cả Dự thảo chỉ có 01 điề quy định về ly thân). Vì vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng, của gia đình và người thứ ba có liên quan vẫn có thể bị ảnh hưởng. Do đó, Dự thảo Luật cần quy định cụ thể hơn nữa về ly thân (như quyền yêu cầu ly thân của vợ chồng; căn cứ giải quyết ly thân; giải quyết các trường hợp ly thân và hậu quả pháp lý của việc ly thân).

Về ly hôn, tại Điều 51 Dự thảo Luật quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn cần bổ sung việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong thời gian nhờ mang thai hộ và sinh con theo phương pháp khoa học.

Đại diện Hội Luật gia thành phố Hà Nội thì cho rằng nên bỏ Điều 25 của Dự thảo quy định như vậy là không thực tế vìvợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó là chưa ổn. Bởi lẽ, trong quan hệ kinh doanh, các bạn hàng chỉ quan tâm đến người mình trực tiếp xác lập các quan hệ làm ăn, tự nhiên lại có vợ (hoặc chồng) của đối tác xen vào các thỏa thuận đã xác lập và dự định xác lập là không thực tế và tại khoản 2 của Điều này nêu “ đưa tài sản chung vào kinh doanh, thì theo qui định tại Điều 36: Trường hợp vợ, chồng thỏa thuận một bên sử dụng tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Vì thế vấn đề đặt ra: Một người dùng tài sản riêng để kinh doanh (nên không có thỏa thuận vợ chồng) thì có được quyền tự mình thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản riêng đó mà không bị vợ hoặc chồng lấy tư cách đại diện để tham gia?. Đặc biệt là Tại Luật Doanh nghiệp năm 2005: Cá nhân người góp vốn vào công ty (khi góp vốn cũng không phải có văn bản thỏa thuận vợ chồng về tài sản mang góp vốn) được tự định đoạt phần vốn góp của mình mà không cần sự đồng ý của vợ (hoặc chồng) vì họ hoạt động theo điều lệ và các cam kết với những người góp vốn khác.

Theo ông Đỗ Minh Sơn, Trưởng Phòng Văn bản pháp quy, Sở Tư pháp Hà Nội thì tại khoản 1, Điều 56 của Dự thảo quy định về việc giải quyết vấn đề ly hôn chưa thực sự thỏa đáng. Theo đó, thì tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ hoặc chồng cho ly hôn, còn không thì bác yêu cầu, không cho ly hôn. Đây cũng là nội dung đã được quy định tại Điều 89 Luật năm 2000.Tuy nhiên, vì luật vẫn chưa lý giải được thế nào là tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên khi xử, Hội đồng xét xử phải đọc Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao để áp dụng: được coi là tình trạng vợ chồng trầm trọng khi vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc vợ hoặc chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, hòa giải nhiều lần; vợ, chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hòa giải nhiều lần; vợ, chồng không chung thủy như có quan hệ ngoại tình, đã được chồng, vợ hoặc bà con thân thích hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

Trong thực tế, việc đánh giá tình trạng hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng hay chưa hầu như chỉ phụ thuộc vào cảm nhận, ý chí cá nhân của thẩm phán, dẫn đến có trường hợp cho hoặc bác đơn ly hôn chưa phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế của vợ chồng. Nguyên nhân là việc áp dụng điều 89 và hướng dẫn nói trên đã phát sinh nhiều vướng mắc: chung chung, thiếu rõ ràng, xem xét đánh giá mức độ trầm trọng của mâu thuẫn chưa đầy đủ, toàn diện. Sự chung chung, không rõ ràng này dẫn đến trường hợp vợ chồng có thể hòa giải đoàn tụ nhưng Hội đồng xét xử lại cho ly hôn. Do đó, Dự thảo Luật nên sửa đổi, bổ sung chặt chẽ, cụ thể hơn về căn cứ ly hôn, để vận dụng cho hoặc bác đơn ly hôn có sức thuyết phục hơn.

Các đại biểu góp ý kiến vào dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi)

Về quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ quy định tại Điều 73 Dự thảo, ông cũng đề nghị lưu ý vì theo quy định tại điều 61 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì trường hợp cha mẹ còn sống nhưng không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên và có yêu cầu thì phát sinh giám hộ đương nhiên, nếu không có người giám hộ đương nhiên mới phát sinh giám hộ cử. Tuy nhiên, theo quy định tại điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì trường hợp nêu trên cha mẹ có thể cử người khác giám hộ cho con, cha mẹ và người giám hộ thỏa thuận về việc người giám hộ thực hiện một phần hoặc toàn bộ việc giám hộ (không áp dụng việc giám hộ đương nhiên, giám hộ cử như quy định của Bộ luật Dân sự). Trên thực tế, để đảm bảo quyền lợi cho người được giám hộ, các địa phương có thể linh động giải quyết cho thay đổi người giám hộ nhưng với điều kiện là giữa hai bên có sự thỏa thuận. Đây là một quy định có tính ưu việt nên kế thừa.

Về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài (tại Chương VIII Dự thảo). Cần sửa đổi theo hướng thông thoáng thuận tiện để bảo quyền lợi cho phụ nữ Việt Nam lấy chồng người nước ngoài theo hướng Tòa án khi nhận đơn ly hôn thì cho dù có hay không có ý kiến của phía bị đơn nước ngoài, tòa án cũng phải thụ lý và giải quyết, đồng thời nên quy định dù bất cứ lý do gì thì đây cũng là vụ việc dân sự nên giải quyết trong thời gian ngắn nhất có thể (khoảng 6 tháng).

Thay mặt Đoàn ĐBQH Thành phố, đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hà, Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tiếp thu và đánh giá cao những ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự Hội nghị và khẳng định, những ý kiến của các đại biểu phát biểu tại Hội nghị sẽ được Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tổng hợp trình lên Ban soạn thảo để nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung vào các điều, khoản của Luật và trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tới.

Hoài Thương – Đình Hoàng 

Lượt xem: 605

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.