Góp ý vào dự thảo Luật An toàn thông tin mạng: Cần bổ sung nội dung phát triển nguồn lực an toàn thông tin

Theo ý kiến của đồng chí Hoàng Đăng Hải, Phó Giám đốc Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông, Chương VI - Về phát triển nguồn lực an toàn thông tin là một nội dung quan trọng, nhưng chỉ có 3 điều, như vậy là quá ít, đề nghị cần bổ sung nội dung chi tiết cho Chương này. Trong đó, chú trọng tạo cơ chế thông thoáng cho các cơ sở tham gia đào tạo, đặc biệt là các cơ sở giáo dục đại học và chuyên sâu về an toàn thông tin. Ngoài ra, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ đào tạo và đào tạo lại cho đội ngũ giảng viên, chuyên gia về an toàn thông tin trọng các cơ sở giáo dục đại học…

Chiều ngày 10/9/2015, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật An toàn thông tin mạng. Tham dự hội nghị có một số ĐBQH trong Đoàn, đại diện lãnh đạo Ban Cơ yếu Chính phủ, Cục An toàn thông tin - Bộ Thông tin và truyền thông, các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan trên địa bàn Thành phố.

Các đại biểu dự hội nghị đóng góp vào dự thảo Luật An toàn thông tin mạng

Tại hội nghị, đa số ý kiến tán thành với việc xem xét, thông qua Luật An toàn thông tin mạng là cần thiết, phù hợp với yêu cầu xây dựng, phát triển của đất nước trong điều kiện hiện nay. Đây sẽ là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị thống nhất, đồng thời là công cụ hữu hiệu điều chỉnh toàn diện hoạt động an toàn thông tin trên mạng bảo đảm một môi trường mạng an toàn phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, đồng thời góp phần nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, phù hợp với thông lệ quốc tế bảo đảm an toàn thông tin, tạo môi trường bình đẳng cho các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam và cụ thể hóa tinh thần của Hiến pháp 2013.

Theo ý kiến đồng chí Đỗ Minh Sơn, Hội Luật gia Hà Nội, về kết cấu, bố cục của dự thảo Luật, với nội dung chủ yếu là các vấn đề kỹ thuật để hỗ trợ quá trình truyền tải thông tin trên mạng nên dự thảo được thiết kế với 8 chương, 63 điều, trong đó trọng tâm là chương II với 4 mục, 23 điều (từ Điều 9 đến Điều 23), tuy nhiêm, để bảo đảm tính logic và gắn kết về nội dung, đồng thời để giảm số lượng Chương trong dự thảo, đề nghị chuyển toàn bộ Chương IV tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thông tin mạng thành một mục của Chương II bảo đảm an toàn thông tin trên mạng. Về phạm vi điều chỉnh, cách thể hiện phạm vi điều chỉnh được trình bày theo phương pháp liệt kê những nội dung được đề cập đến trong dự thảo, tuy nhiên, một số nội dung rất quan trọng là xử lý khi có vi phạm pháp luật xảy ra trong hoạt động an toàn thông tin mạng lại không được đề cập đến trong phạm vi điều chỉnh.

Đồng chí Nguyễn Thị Thanh Tâm, Phó phòng Văn bản pháp quy, Sở Tư pháp góp ý vào một số nội dung cụ thể như: về giải thích từ ngữ, khoản 16, 17 Điều 3 về “thông tin cá nhân” và “thông tin riêng” chưa có sự phân biệt cụ thể nên dễ gây nhầm lẫn; quy định về sửa đổi, cấp lại và thu hồi giấy phép kinh doanh sản phẩm dịch vụ mật mã dân sự tại Điều 36 cần có thêm nội dung “gia hạn” đối với các loại giấy phép này; Về quản lý tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn thông tin tại Điều 41, nội dung về quản lý quy định rất ít, trong khi nội dung về giải thích thì nhiều, vì vậy, nên đưa quy định này sang phần giải thích từ ngữ; Điều 50, giữa tên Điều và nội dung các khoản không có sự đồng nhất như tên điều không có nội dung “tạm đình chỉ” nhưng tại khoản 3, điểm a lại có nội dung “tạm đình chỉ hoạt động”, đề nghị xem xét lại nội dung của Điều này…

Theo ý kiến của đồng chí Hoàng Đăng Hải, Phó Giám đốc Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông, để hoàn chỉnh hơn nữa dự thảo Luật, Ban soạn thảo cần nghiên cứu, xem xét thêm một số vấn đề như: Phạm vi điều chỉnh còn rộng, liên quan đến hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực của xã hội, do đó cần xem xét, tập trung vào các trọng tâm ưu tiên bảo đảm an toàn thông tin; Nhiều từ ngữ còn thiếu giải thích, chưa rõ ràng, rõ nghĩa, thiếu tính chặt chẽ; Một số nội dung quan trọng liên quan đến trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin của các tổ chức, doanh nghiệp đang cung cấp những dịch vụ phổ biến cho xã hội còn chưa được đề cập. Riêng Chương VI - Về phát triển nguồn lực an toàn thông tin là một nội dung quan trọng, nhưng chỉ có 3 điều, như vậy là quá ít, đề nghị cần bổ sung nội dung chi tiết cho Chương này. Trong đó, chú trọng tạo cơ chế thông thoáng cho các cơ sở tham gia đào tạo, đặc biệt là các cơ sở giáo dục đại học và chuyên sâu về an toàn thông tin. Ngoài ra, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ đào tạo và đào tạo lại cho đội ngũ giảng viên, chuyên gia về an toàn thông tin trọng các cơ sở giáo dục đại học…

Ngoài những ý kiến trên, các cơ quan, đơn vị tham dự hội nghị đã góp ý cụ thể vào các chương, điều trong Dự thảo Luật. Đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hà - Phó Trưởng Đoàn ĐBQH Hà Nội thay mặt Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tiếp thu toàn bộ các ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự Hội nghị và khẳng định, những ý kiến, kiến nghị này sẽ được Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tổng hợp trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội./.

THANH HÀ

Lượt xem: 491

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.