Góp ý vào dự thảo Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi): Cần đảm bảo tính độc lập của cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước

Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005, có hiệu lực thi hành gần 10 năm, đến nay Luật Kiểm toán nhà nước đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Hiến pháp năm 2013 cũng như đồng bộ với các luật có liên quan như: Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Kế toán...

Để chuẩn bị cho kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XIII, ngày 03/3/2015, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi), tổng hợp các ý kiến cho thấy, Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005, có hiệu lực thi hành gần 10 năm, đến nay Luật Kiểm toán nhà nước đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Hiến pháp năm 2013 cũng như đồng bộ với các luật có liên quan như: Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Kế toán...

Dự thảo Luật Kiểm toán nhà nước sửa đổi lần này phải đáp ứng được các mục tiêu quan trọng theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, đó là: Kiểm toán nhà nước không thuần túy là cơ quan chuyên môn làm nhiệm vụ kim tra, đánh giá xác nhận tình trạng tài chính nhà nước, mà là cơ quan do Quốc hội thành lập với chức năng trực tiếp và hỗ trợ, phục vụ Quốc hội, HĐND kiểm tra, kiểm soát việc thực thi quyền lực về tài chính nhà nước, về ngân quỹ quốc gia trong hệ thống nhà nước pháp quyền của Việt Nam. Kiểm toán nhà nước với vị trí độc lập tại các kỳ họp của Quốc hội, HĐND khi thảo luận, quyết nghị về tài chính, ngân sách là hết sức quan trọng, cần thiết, để bảo đảm tính công khai, minh bạch của tài chính, ngân sách của quốc gia, bảo đảm về độ tin cậy của các thông tin về tài chính, ngân sách trình ra Quốc hội, HĐND để thảo luận, quyết định. Kiểm toán nhà nước phải được hoàn toàn độc lập, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ và được bảo đảm sự độc lập thông qua các quy định rõ ràng, minh bạch, đầy đủ của pháp luật tránh sự tác động trực tiếp hay gián tiếp. Quốc hội, HĐND thực hiện được tốt chức năng, bảo đảm được thực quyền trong các quyết định dự toán ngân sách, phân bổ ngân sách, phê chuẩn quyết toán và giám sát tình hình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, HĐND về tài chính, ngân sách là căn cứ trên báo cáo xác thực của Kiểm toán nhà nước…

Một số ý kiến cho rằng dự thảo Luật chưa quy định đầy đủ về vị trí pháp lý của Kiểm toán nhà nước, theo đó chưa quy định toàn diện nhiệm vụ kiểm toán đối với hoạt động lập dự toán, chấp hành, quyết toán ngân sách theo quy định của Hiến pháp năm 2013. Đ nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, cụ thể hóa địa vị pháp lý, nhiệm vụ và việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Kiểm toán nhà nước, là cơ quan giúp Quốc hội thực hiện quyền lực tài chính của mình bằng việc cung cấp sự xác nhận về tính đúng đắn, hợp pháp, hợp lý của các thông tin tài chính, hoạt động tài chính trong lĩnh vực tài chính công.

Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu cân đối số lượng điều giữa các chương trong dự thảo Luật, theo đó chương IV có tới 25 điều (từ Điều 33 đến 57) trong khi đó chương VIII có 3 điều (Điều 72, 73 và 74), chương IX chỉ có 01 điều (Điều 75) và ngay trong cùng một chương cũng có sự mất cân đối giữa các điều (chương VIII, giữa Điều 72 và Điều 74 với Điều 73). Bố cục của dự thảo Luật không cân đối, chú trọng quy định nhiều về tổ chức (42 điều) và quy định ít về hoạt động (6 điều); nặng về xác định quyền của tổ chức kiểm toán hơn là trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức này. Có ý kiến đề nghị bổ sung một điều quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ của Kiểm toán nhà nước đối với Quốc hội, đối với đối tượng được kiểm toán và các tổ chức cá nhân có liên quan tới quyền và lợi ích hợp pháp xuất phát trực tiếp từ Báo cáo và kết luận của Kiểm toán nhà nước.

Dự thảo Luật quy định một số điều có tính định tính cao, rất khó xác định chuẩn mực như “nắm vững, nắm được...” (quy định đối với tiêu chuẩn bổ nhiệm các chức danh Kiểm toán nhà nước tại các Điều 24, 25, 26 ). Đ nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, quy định cụ thể để tạo điều kiện thuận lợi khi xem xét, bổ nhiệm các chức danh này. Ngoài ra, dự thảo Luật còn nhiều điều, khoản giao y ban Thường vụ Quốc hội (các điều 6, 10, 13, 16, 63, 65...) hoặc Tổng kiểm toán (các điều 6, 32, 33, 36, 37, 38..) hướng dẫn thi hành; có thể gây khó thi hành khi Luật có hiệu lực.

Về chuẩn mực Kiểm toán nhà nước (Điều 6), khoản 3: Có ý kiến cho rằng việc xây dựng hệ thống chuẩn mực Kiểm toán nhà nước là kết quả của tập thể cơ quan chuyên môn kiểm toán trong đó Tổng Kiểm toán nhà nước là người chủ trì t chức xây dựng. Đ nghị bổ sung cụm từ “chủ trì” vào sau cụm từ “Tống kiểm toán Nhà nước” hoặc gộp khoản 2 với khoản 3 và viết lại thành: "Tổng Kiểm toán nhà nước xây dựng, trình y ban Thường vụ Quốc hội ban hành hệ thống chun mực kim toán nhà nước".

Về giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán (Điều 7), có ý kiến cho rằng quy định như dự thảo Luật thì giá trị pháp lý mang tính bắt buộc của báo cáo kim toán chỉ đối với đơn vị được kiểm toán. Ngoài ra, dự thảo Luật quy định báo cáo kiểm toán là căn cứ đế khiếu nại và giải quyết khiếu nại, nhưng bản chất báo cáo kiểm toán không phải là một quyết định hành chính. Mặt khác, dự thảo Luật cũng chưa quy định cụ thể báo cáo kiểm toán có được sử dụng trong hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát hay không. Đ nghị Ban soạn thảo viết lại Điều 7 như sau:

Điều 7. Giá trị pháp  của báo cáo kiểm toán

1. Báo cáo kiểm toán có giá trị pháp lý đối với tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.

2. Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán nhà nước là căn cứ để:

a. Quốc hội...

b. Chính phủ...

c. Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân sử dụng trong công tác quản lý, điều hành và thực thi nhiệm vụ của mình;

d. Hội đồng nhân dân (như dự thảo)

e. Đơn vị được kiểm toán bắt buộc phải thực hiện kết luận kiểm toán về các sai phạm trong quản lý sử dụng tài chính, tài sản công.

Có ý kiến cho rằng, báo cáo kiểm toán Nhà nước là một trong những cơ sở, căn cứ để Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra, thanh tra sử dụng trong công tác quản lý, điều hành và đưa ra các Quyết định của mình. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy còn một số kiến nghị của cơ quan Kiểm toán trong Báo cáo kiểm toán chưa phân tách được nội dung kiến nghị là phát hiện truy thu, thu nộp bổ sung về mặt tài chính, tách bạch với kiến nghị chỉ mang tính chất khuyến nghị, không làm phát sinh thêm nghĩa vụ về tài chính, dẫn đến tình trạng số kiến nghị xử lý tài chính của cơ quan kiểm toán chưa phản ánh đúng bản chất số phát sinh thêm nghĩa vụ về tài chính đơn vị phải thực hiện. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, quy định cụ thể về nội dung kiến nghị truy thu và nội dung khuyến nghị của báo cáo kiểm toán từ đó đảm bảo tính chính xác, phù hp của các kiến nghị về xử lý tài chính trong báo cáo kiểm toán.

Về các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 8), Có ý kiến cho rằng việc quy định chung các hành vi bị cấm cho cả Kiểm toán nhà nước (là tổ chức) và Kiểm toán viên nhà nước (là cá nhân) là không hợp lý vì có một số hành vi không thể quy định cho tổ chức (Ví dụ: nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi). Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu tách riêng thành từng khoản quy định về các hành vi bị nghiêm cấm đối với Kiểm toán nhà nước và về các hành vi bị nghiêm cấm đối với Kiểm toán viên nhà nước.

Về nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán nhà nước (Điều 12), một số ý kiến đề nghị giữ nguyên quy định về nhiệm kỳ của Tổng kiểm toán nhà nước theo Luật kiểm toán nhà nước năm 2005 là 7 năm để bảo đảm sự độc lập của kiểm toán nhà nước. Mặt khác, Kiểm toán nhà nước là một cơ quan chuyên môn về tài chính của Quốc hội thì đặc điểm công vụ Tổng kiểm toán nhà nước có nhiều tính chất của “công chức chuyên môn” hơn là “công chức chính trị”. Vì vậy, với trách nhiệm kiểm tra, đánh giá và xác nhận quyết toán ngân sách nhà nước đòi hỏi Tổng kiểm toán nhà nước phải tiếp tục xem xét, có ý kiến về quyết toán ngân sách một năm rưỡi trước đó. Đnghị nhiệm kỳ của Tổng kiểm toán nhà nước là 07 năm và không trùng với nhiệm kỳ của Quốc hội, Chính phủ.

Về trách nhiệm của Tổng Kiểm toán nhà nước (Điều 13), có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo xem xét bỏ quy định việc Tổng kiểm toán trả lời chất vấn trước đại biu Quốc hội” vì: Bản chất của hoạt động của kiểm toán là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước, không thuần túy là cơ quan chuyên môn làm nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá xác nhận tình trạng tài chính nhà nước và do chính Quốc hội thành lập để giúp Quốc hội, HĐND kiểm tra, giám sát quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; Hoạt động của kiểm toán là hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật nên cơ chế trả lời chất vấn trước đại biu Quốc hội là không cần thiết; và để tránh trùng lắp với quy định trong Luật Tổ chức Quốc hội.

V thời hạn kiểm toán (Điều 37), quy mô, nội dung của các cuộc kiểm toán là khác nhau, có cuộc kiểm toán quy mô nhỏ chỉ cần số lượng ít kiểm toán viên làm việc trong thời gian ngắn, nhưng có những cuộc kiểm toán quy mô lớn, nội dung phức tạp cần nhiều kiểm toán viên và phải thực hiện trong thời gian dài. Do vậy, việc quy định cứng thời hạn tối đa cho một cuộc kiểm toán nói chung (áp dụng cho cả kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động) là không phù hp và khó khả thi. Trên thực tế, việc quyết định thời hạn kiểm toán tại kiểm toán nhà nước thực hiện rất chặt chẽ (thông qua việc thẩm định của các đơn vị tham mưu) trước khi trình Tổng kiểm toán nhà nước ký ban hành, vì vậy các cuộc kiểm toán không thể tùy tiện trong việc quy định thời hạn tối đa thực hiện một cuộc kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán. Đ phù hp với thực tiễn kiểm toán, tránh khó khăn khi tiến hành các cuộc kiểm toán, đề nghị bổ sung và viết lại như sau: ‘'Đi với cuộc kiểm toán hoạt động, cuộc kiểm toán chuyên đề, Tổng Kiểm toán nhà nước quyết định cụ thể về thời hạn kiểm toán”. 

V khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán (Điều 73), có ý kiến cho rằng, việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại về hoạt động kiểm toán thực chất là một dạng giải quyết khiếu nại, nhưng do tính chất đặc thù trong hoạt động kiểm toán nhà nước nên cần quy định có sự khác biệt so với các quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Vì trình tự trên được áp dụng đối với các cơ quan hành chính nhà nước và việc giải quyết cuối cùng được thực hiện theo trình tự tố tụng hành chính, trong khi đó Kiểm toán nhà nước không phải là cơ quan hành chính nhà nước. Báo cáo kiểm toán nhà nước không phải là quyết định hành chính, hành vi của thành viên Đoàn kiểm toán nhà nước không phải là hành vi hành chính nên quy trình, thủ tục, thẩm quyền giải quyết cũng cần có đặc thù nhất định. Mặt khác, tại Điều 3 Luật Khiếu nại quy định “Trường hợp luật khác có quy định khác về khiếu nại và giải quyết khiếu nại thì áp dụng theo quy định của luật đó”. Do vậy, đềnghị Dự thảo quy định theo trình tự riêng, không theo quy định của Luật Khiếu nại…

Toàn văn tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Kiểm toán nhà nước. 

QUỐC THỊNH

Lượt xem: 167

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.