Hiểu đúng về quyền “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”
Cần phải hiểu rằng không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội là quyền con người. Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc nếu cơ quan điều tra muốn buộc tội một người thì phải đi tìm chứng cứ chứng minh. Mà khi cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã có đủ chứng cứ chứng minh một người phạm tội thì tòa có quyền kết tội cho dù người đó không nhận.
Theo dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự bản mới nhất thì khái niệm “quyền im lặng” đã không được nhắc đến. Tuy nhiên, trong các quy định của dự thảo, đặc biệt tại các Điều 57 - Người bị bắt; Điều 58 - Người bị tạm giữ; Điều 59 - Bị can; Điều 60 - Bị cáo, đều có các điều khoản quy định rõ: “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” – và đây thực ra chính là nội hàm quan trọng nhất trong “quyền im lặng”. Rõ ràng việc “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” là vấn đề nhạy cảm nhưng trước hết nó dành cho mọi công dân và để bảo vệ người vô tội. Đôi lúc người dân gặp tình thế bị nghi là có tội và cơ quan tố tụng ép người dân phải nhận tội, nếu không nhận tội thì người dân phải khai báo, phải làm nhiều thứ, có thể phải bộc lộ cả bí mật đời tư để chứng minh là mình vô tội. Hiện nay, dư luận cũng như ý kiến của đại diện các cơ quan điều tra, xét xử tỏ vẻ không đồng tình với “quyền im lặng”, đặc biệt nhấn mạnh trường hợp những người thực sự có tội cũng được hưởng quyền này chắc chắn sẽ gây khó khăn cho cơ quan điều tra. Nhưng quyền này lại có tác dụng chống oan sai. Có những trường hợp một người thực sự không phạm tội nhưng cơ quan điều tra cứ nghĩ có tội, dẫn đến dùng nhục hình để ép nhận tội. Do đó khi nghi can sử dụng quyền này thì cơ quan điều tra phải đi chứng minh họ phạm tội bằng chứng cứ chứ không thể chỉ bằng lời cung hoặc mớm cung, bức cung, dùng nhục hình. Cần phải hiểu rằng không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội là quyền con người. Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc nếu cơ quan điều tra muốn buộc tội một người thì phải đi tìm chứng cứ chứng minh. Mà khi cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã có đủ chứng cứ chứng minh một người phạm tội thì tòa có quyền kết tội cho dù người đó không nhận. Dự thảo Bộ luật cũng thể hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, khi chưa có bản án có hiệu lực của tòa thì bị can, bị cáo, người bị tình nghi được đối xử như người bình thường. Điều 13 - Suy đoán vô tội quy định rõ: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Chúng ta biết rằng cơ quan điều tra phải điều tra xem một nghi phạm có tội hay không. Nhưng việc điều tra phải được tiến hành trên tinh thần suy đoán vô tội chứ không phải là “chắc chắn là người đó có tội, giờ phải làm sao cho người đó nhận tội”. Mọi người đều được suy đoán vô tội. Ai muốn kết tội người khác thì phải đi tìm chứng cứ chứng minh. Còn người bị tình nghi phạm tội không có nghĩa vụ phải chứng minh mình không có tội mà mặc nhiên được coi là vô tội. Cần phải hiểu nguyên tắc suy đoán vô tội được đặt ra không phải chỉ dành riêng cho người bị tình nghi phạm tội mà là quyền con người của mọi công dân. Nó giúp cho mọi công dân được sống an toàn, được bảo vệ như những công dân trong một quốc gia có nhà nước pháp quyền, có dân chủ. Như vậy, rõ ràng quyền “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” là rất tiến bộ. Thực tế không phải ai cũng im lặng trước cơ quan điều tra. Đôi khi người ta còn muốn khai báo nhanh chóng, thành khẩn nữa, nhưng muốn người ta khai báo nhanh chóng, thành khẩn còn tùy thuộc vào cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra phải giải thích cho người ta rằng “anh cứ nói sự thật, nếu anh vô tội, anh cứ nói hết để chúng tôi giải tỏa cho anh, để anh khỏi bị nghi ngờ”. Cơ quan điều tra phải thuyết phục người ta. Có người nói quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội giúp cho tội phạm không cần khai báo. Có khi tội phạm còn tự nguyện khai báo vì họ luôn tìm cách khai báo những gì có lợi cho họ. Nếu nghĩ rằng áp dụng và tôn trọng những quyền đó sẽ làm cho tội phạm “im như thóc” thì đó là suy luận chưa hẳn đúng. Bởi lẽ càng là tội phạm chuyên nghiệp, nguy hiểm thì có khi càng khai nhiều để tìm cách dẫn dắt cơ quan điều tra đi lạc hướng hay vẽ ra một bức tranh có lợi cho họ. Như vậy có thể thấy, quyền này là để chống bức cung đối với người vô tội, chứ tội phạm chưa chắc ai cũng sử dụng. Một người bình thường, hoàn toàn không liên quan thì chắc chắn người ta cũng trình bày chứ không im lặng. Nhưng giả dụ như người ta chưa suy nghĩ được, người ta cần bình tĩnh, nhất là sau khi vụ án vừa xảy ra mà người ta có liên can thì anh không thể bắt người ta khai báo ngay lập tức khi chưa có luật sư. Nếu nghi can khai báo trong tình trạng đó thì sẽ bất lợi, chưa kể khi bị tạm giữ, bị bắt thì sẽ bị khủng hoảng, bức bách nhiều thứ, dễ khai báo không chính xác, hay nhầm lẫn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bị can, bị cáo có quyền hoàn toàn không khai báo gì trước cơ quan tố tụng. Anh ta có quyền im lặng khi nói về tội phạm của mình, nhưng không được im lặng khi nói về tội phạm của đồng bọn. Nếu anh ta biết cùng phạm tội với mình có đồng phạm mà anh ta im lặng hoặc khai báo khác đi, thì anh ta phạm thêm một tội khác là tội không tố giác hoặc bao che tội phạm. Việc cơ quan điều tra cho phép anh có quyền tự bào chữa nếu anh nói về tội phạm của mình theo đúng bản chất của nó, thì có nghĩa là anh đã thực hiện quyền tự bào chữa. Ngoài ra, anh hợp tác tốt với cơ quan điều tra, thành khẩn thì được hưởng thêm chính sách hình sự khác là tình tiết giảm nhẹ, khoan hồng, thậm chí đến mức miễn trừ trách nhiệm hình sự nếu như anh hợp tác tốt. Bên cạnh đó, các quy định của dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự cũng nhấn mạnh vai trò của luật sư, quyền phải có người bào chữa ngay từ khi bị bắt, không khai báo nếu không được sự tư vấn đầy đủ của người bào chữa. Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự cũng cho phép bị can, bị cáo, người bào chữa… được quyền thu thập chứng cứ; có những đề xuất về việc ghi âm, ghi hình hoạt động hỏi cung; thay đổi trình tự xét hỏi tại phiên tòa theo hướng Viện kiểm sát hỏi trước; vị trí chỗ ngồi của luật sư ngang với kiểm sát viên; hạn chế việc trả hồ sơ; mở rộng trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa… Dù cho còn có những người chưa đồng tình nhưng những điểm tiến bộ đó sẽ đưa tố tụng hình sự tiến lên một tầm cao mới theo hướng dân chủ hơn, văn minh hơn, an toàn hơn cho người dân. QUỐC THỊNHLượt xem: 1285
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.