Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách thảo luận về một số dự án Luật trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ Hai

Các đại biểu Quốc hội chuyên trách đóng góp ý kiến vào 2 dự án luật gồm: dự án Luật tín ngưỡng, tôn giáo và dự án Luật về hội. Qua đó, các ý kiến đóng góp tại hội nghị sẽ là cơ sở để hoàn thiện, nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai.

Trong hai ngày 8 và 9/9, tại nhà Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách để thảo luận một số nội dung trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIV.

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu khai mạc phiên họp. Ảnh: Trọng Đức

Các đại biểu Quốc hội chuyên trách đóng góp ý kiến vào 2 dự án luật gồm: dự án Luật tín ngưỡng, tôn giáo và dự án Luật về hội. Qua đó, các ý kiến đóng góp tại hội nghị sẽ là cơ sở để hoàn thiện, nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai.

Phát biểu khai mạc hội nghị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nêu rõ: việc ban hành 2 dự thảo Luật này là rất cần thiết để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, quyền lập Hội của công dân và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước. Chủ tịch Quốc hội khẳng định, để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, đòi hỏi phải tiếp tục cải tiến, đổi mới nội dung, hình thức hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội, trong đó cần đặc biệt chú trọng đến các hoạt động nhằm phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm, trí tuệ của các đại biểu Quốc hội, nhất là các đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết, trong cả nhiệm kỳ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ tăng cường việc tổ chức các hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách nhằm thảo luận, đóng góp ý kiến đối với những vấn đề quan trọng mà các đại biểu Quốc hội chuyên trách cần nghiên cứu và cho ý kiến trước.

Với tinh thần đó, Chủ tịch Quốc hội mong muốn các đại biểu Quốc hội chuyên trách phát huy trí tuệ, tinh thần, trách nhiệm, tích cực tham gia thảo luận, có nhiều ý kiến thiết thực, xác đáng vào 2 dự án luật nêu trên, góp phần vào thành công của hội nghị.

Ngay sau đó, dưới sự điều khiển của Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng, các đại biểu Quốc hội chuyên trách đã thảo luận cho ý kiến về một số vấn đề lớn của dự án Luật tín ngưỡng, tôn giáo.

Nhiều điểm tiến bộ trong dự thảo Luật tín ngưỡng, tôn giáo

Đây là dự thảo luật đã được các đại biểu Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 10 vào cuối năm 2015 và đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo lấy ý kiến các cơ quan hữu quan, các chuyên gia về pháp luật và tín ngưỡng, tôn giáo, các tổ chức tôn giáo để tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật ngay sau kỳ họp.

Đánh giá dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tiếp thu nghiêm túc, đầy đủ các ý kiến đại biểu thảo luận tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII, các đại biểu Quốc hội cơ bản nhất trí với sự cần thiết xây dựng và ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo để tiếp tục thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo; cụ thể hóa tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và cho rằng dự thảo Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã được kết cấu lại khoa học, chặt chẽ hơn, gồm 9 chương, 8 mục và 69 điều. Bên cạnh việc sắp xếp, bổ sung một số điều luật và đổi tên các chương, mục, dự thảo Luật đã thiết kế một chương mới (Chương II) gồm 4 điều quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Đa số các đại biểu nhất trí với phạm vi điều chỉnh Luật là điều chỉnh quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của người có tín ngưỡng, tín đồ tôn giáo, tổ chức tôn giáo, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Các đại biểu cho rằng dự án Luật có nhiều điểm tiến bộ so với Pháp lệnh như: việc mở rộng phạm vi chủ thể về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đưa ra quy định về các hành vi bị cấm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; dành một chương riêng quy định cụ thể về sự tham gia của các tổ chức tôn giáo trong lĩnh vực y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, nhân đạo; quy định về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài ở Việt Nam, đồng thời xây dựng chương quản lý nhà nước về tín ngưỡng tôn giáo...

Cần bổ sung thêm các hành vi bị nghiêm cấm

Góp ý về các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo được quy định tại Điều 5 của dự thảo luật, các đại biểu cho rằng cần thiết phải quy định đầy đủ, toàn diện và chặt chẽ hơn. Bởi nếu các hành vi bị nghiêm cấm được quy định theo phương thức liệt kê thì còn thiếu rất nhiều. Các đại biểu cho rằng, chỉ với 5 hành vi được liệt kê tại Điều 5 trong dự thảo hoàn toàn là chưa đủ và cần phải bổ sung. Đại biểu Trần Thị Quốc Khánh- Hà Nội đề nghị Ban soạn thảo bổ sung thêm việc cấm các hoạt động tín ngưỡng kích động bạo lực, xâm hại động vật. Đại biểu chỉ rõ, trong thời gian qua, nhiều lễ hội chém lợn, đâm trâu... người tham dự chạy đến lấy tiền quét vào máu rồi mang về để trên bàn thờ diễn ra vô cùng tàn bạo, mất vệ sinh, mang tính chất mê tín dị đoan, phản cảm đã tạo ra dư luận xấu về hình ảnh văn hóa Việt Nam trong và ngoài nước. Do vậy, đại biểu Trần Thị Quốc Khánh đề nghị bổ sung thêm hành vi này vào nhóm các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 5 của dự thảo luật để chấn chỉnh các lễ hội như trên, đồng thời đồng bộ hóa lòng nhân ái của con người đối với động vật, khuyến khích con người yêu thương, chăm sóc động vật như tinh thần của Luật thú y, Pháp lệnh bảo vệ động vật hoang dã… mà chúng ta đã có.

Liên quan đến các hành vi bị nghiêm cấm lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, đại biểu Lưu Thành Công- Vĩnh Long cũng đề nghị bổ sung thêm quy định về việc nghiêm cấm các hành vi mê tín, dị đoan vào Điều 5 của dự thảo luật này.

Cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo?

Theo Báo cáo giải trình của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, hiện nay, theo phân công của Chính phủ, Bộ Nội vụ được giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tôn giáo; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được giao thực hiện việc quản lý lễ hội tín ngưỡng; chưa có cơ quan nào quản lý nhà nước về tín ngưỡng. Việc giao chức năng quản lý nhà nước về tôn giáo cho Bộ nội vụ cũng chưa thật sự phù hợp, vì mới chỉ dựa trên sự tiếp cận theo góc độ quản lý tổ chức mà chưa chú trọng việc bảo đảm cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo như là hoạt động văn hóa, tinh thần. Do đó, quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong thực tiễn còn phân tán, thiếu đồng bộ và chưa hiệu quả.

Qua thảo luận, một số đại biểu bày tỏ quan điểm ủng hộ việc giao chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cho rằng Bộ này là cơ quan nhà nước phù hợp chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm bảo đảm sự thống nhất và thuận lợi trong quản lý nhà nước về lĩnh vực này. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Nguyễn Công Hồng cho rằng, hoạt động tôn giáo vốn là một hoạt động văn hóa tinh thần của nhân dân, do đó nên giao chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo cho Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch quản lý sẽ hợp lý hơn.

Tuy nhiên, nhiều đại biểu khác lại cho rằng, cần phải có một cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo độc lập để phản ánh đúng tính phức tạp, quan trọng của lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội hiện nay. Đại biểu Trần Duy Vượt- Gia Lai phân tích, với tình hình tôn giáo đặc biệt phức tạp như trên địa bàn Tây Nguyên, nếu giao chức năng quản lý cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ lại giao cho Sở thì việc quản lý vẫn chưa sát vì theo đại biểu Sở cũng có rất nhiều việc cần làm. Bởi vậy, giao nhiệm vụ này cho một cơ quan độc lập để quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo sẽ tốt hơn.

Một số đại biểu khác cho rằng, cần phải có sự cân nhắc thận trọng đối với vấn đề này, đề nghị nếu chưa sắp xếp được cơ quan quản lý thì nên giữ nguyên như hiện nay. Nghĩa là, Bộ Nội vụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tôn giáo; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện việc quản lý lễ hội tín ngưỡng.

Phát biểu kết thúc buổi thảo luận, Phó chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng đánh giá cao các ý kiến đóng góp góp thẳng thắn, chân thành của các đại biểu chuyên trách tại hội nghị; cho rằng đây là hội nghị có ý nghĩa quan trọng và thiết thực để chuẩn bị cho các nội dung sẽ trình Quốc hội trong Kỳ họp thứ 2.

Toàn cảnh hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách

Thảo luận về dự án Luật về Hội

Dự án Luật về Hội gồm 7 Chương với 43 Điều, quy định cụ thể nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hội; quyền lập hội; chính sách của Nhà nước đối với hội; các trường hợp bị hạn chế quyền lập hội; các hành vi bị nghiêm cấm; hội viên và phân loại hội viên; ban lãnh đạo hội; quyền của hội; nghĩa vụ của hội; hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, liên hiệp và giải thể hội; quản lý, sử dụng tài sản, tài chính của hội; trách nhiệm quản lý Nhà nước về hội...

Thay mặt Ủy ban Pháp luật trình bày Báo cáo xin ý kiến về một số vấn đề lớn của dự thảo Luật về hội, Chủ nhiệm Ủy ban Nguyễn Khắc Định cho biết, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII, các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại Tổ và Hội trường về dự án Luật về hội. Ngay sau kỳ họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Thường trực Ủy ban Pháp luật, cơ quan soạn thảo dự án Luật và các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các vị ĐBQH. Việc nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật được thực hiện dựa trên nguyên tắc bám sát các chủ trương, chính sách của Đảng về tổ chức và hoạt động của hội; bảo đảm tính thống nhất với Hiến pháp năm 2013 và các luật đã được Quốc hội ban hành; không vượt quá phạm vi, đối tượng điều chỉnh của dự thảo Luật mà Chính phủ đã trình và Quốc hội khóa XIII đã thảo luận.Theo đó, sau khi tiếp thu chỉnh lý, kết cấu của dự thảo Luật có sự thay đổi từ 8 chương với 36 điều thành 7 chương với 43 điều.

Cơ bản nhất trí với Báo cáo của Ủy ban Pháp luật, tuy nhiên, các đại biểu cũng đã xem xét, thảo luận và đóng góp thêm nhiều ý kiến nhằm hoàn thiện cho dự thảo Luật được trình ra tại Hội nghị lần này.

Xác định rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Theo Điều 1, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng trong dự thảo Luật quy định: “1. Luật này quy định về lập hội; tổ chức, hoạt động của hội và quản lý nhà nước về hội. 2. Luật này cũng áp dụng đối với tổ chức phi chính phủ nước ngoài đăng ký hoạt động tại Việt Nam. 3. Luật này không áp dụng đối với: a) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam; b) Cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo tại Việt Nam”.

Phân tích quy định tại Điều này, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam Đôn Tuấn Phong cho rằng, bản chất dự thảo đã cố gắng bao trùm các nhóm đối tượng, dự thảo cũng đã quy định áp dụng đối với tổ chức phi chính phủ nước ngoài đăng ký hoạt động tại Việt Nam. Tuy nhiên, đại biểu Đôn Tuấn Phong đặt câu hỏi, nếu đã bao trùm hết các nhóm đối tượng, tại sao dự thảo không quy định các tổ chức phi chính phủ ở trong nước? Đại biểu đề nghị cần xem xét, xác định rõ lại quy định trên.

Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An Trần Văn Mão cũng cho rằng, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của dự thảo luật còn thể hiện một cách lúng túng, chưa rõ ràng. Do đó, đại biểu đề nghị, nếu cần thiết, Điều 1 nên được tách ra thành hai Điều riêng biệt: một Điều về Phạm vi điều chỉnh và một Điều về Đối tượng áp dụng.

Ngoài ra, tán thành quy định của dự thảo Luật là không áp dụng Luật này đối với các tổ chức chính trị- xã hội được quy định trong Hiến pháp, đa số các đại biểu cho rằng, đây là các tổ chức chính trị- xã hội có vị trí, vai trò đặc biệt trong hệ thống chính trị ở nước ta, được giao thực hiện các nhiệm vụ chính trị quan trọng và được Đảng bố trí các cán bộ chủ chốt trong ban lãnh đạo, được Nhà nước bảo đảm cơ sở vật chất, ngân sách hoạt động; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ chuyên trách. Nếu xác định vị trí, vai trò của các tổ chức này là các hội thuần tuý mang tính chất xã hội tự nguyện, tự quản, tự chịu trách nhiệm và chịu sự điều chỉnh của Luật về hội là chưa phản ánh đúng bản chất và thực tế sự phát triển lịch sử của các tổ chức này trong hệ thống chính trị ở nước ta. Hơn nữa, một số tổ chức chính trị- xã hội đã được điều chỉnh trong các luật, pháp lệnh khác như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật công đoàn, Pháp lệnh cựu chiến binh.

Tuy nhiên, nguyên Chủ nhiệm Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, GS.TS. Phạm Hồng Thái cho rằng, Điều 1 của dự thảo Luật chỉ nên tập trung quy định về các đối tượng của Hội, không cần quy định việc “Luật này không áp dụng đối với ai”. GS. TS. Phạm Hồng Thái chỉ rõ, theo cách hiểu trong dự thảo Luật, Hội ở đây là các tổ chức xã hội, còn các đối tượng quy định ở khoản 3 Điều 1 như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam…là các tổ chức chính trị- xã hội. Tương tự đối với các “cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo tại Việt Nam” cũng không cần quy định trong dự thảo Luật.

Không thể “bao cấp” mãi cho các Hội để hoạt động

Về vấn đề chính sách của Nhà nước đối với Hội, tán thành với quy định của Dự thảo về việc: “Nhà nước hỗ trợ và tạo điều kiện hoạt động khi hội thực hiện nhiệm vụ được Nhà nước giao”, đa số các đại biểu cho rằng, những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách rõ ràng và nhất quán trong việc định hướng đổi mới về tổ chức và hoạt động của các hội. Cụ thể tại Kết luận số 102-KL/TW ngày 22/9/2014 của Bộ Chính trị về hội quần chúng đã xác định “Đối với các hội đã được giao biên chế, kinh phí hoạt động giữ ổn định đến hết năm 2016; từ năm 2017 đến năm 2020 từng bước thực hiện khoán kinh phí hoạt động cho hội theo lộ trình phù hợp. Các hội còn lại hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự quản, tự trang trải kinh phí hoạt động, Nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động gắn với nhiệm vụ được giao”.

Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cũng chỉ rõ “Giữ ổn định biên chế của các tổ chức xã hội, xã hội- nghề nghiệp đến hết năm 2016. Từ năm 2017, thực hiện khoán hoặc hỗ trợ kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao” và tại Quy định về quản lý biên chế thống nhất của hệ thống chính trị (ban hành kèm theo Quyết định số 253-QĐ/TW ngày 21/7/2014 của Bộ Chính trị), Bộ Chính trị đã không đặt vấn đề tiếp tục cấp kinh phí hoạt động và không giao biên chế cho các tổ chức hội. Mặt khác, Luật ngân sách nhà nước năm 2015 cũng quy định “Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp được thực hiện theo nguyên tắc tự bảo đảm; ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ cho các nhiệm vụ Nhà nước giao theo quy định của Chính phủ”.

Đưa ra con số thống kê việc ngân sách Nhà nước hiện phải chi khoảng 14.000 tỷ cho hoạt động của các tổ chức Đoàn thể, Viện trưởng Viện Chính sách, pháp luật và phát triển TS. Hoàng Ngọc Giao cho rằng, mặc dù “tiêu xài” ngân sách lớn nhưng các đối tượng này đang hoạt động một cách “hành chính hóa” và kém hiệu quả. TS. Hoàng Ngọc Giao đề nghị nên có chủ trương giảm “bao cấp”, dần chấm dứt việc trợ cấp ngân sách Nhà nước và để các tổ chức đặc thù này tự lo về tài chính.

Cũng bày tỏ ủng hộ phương án dần xóa bỏ việc “bao cấp” ngân sách đối với các tổ chức Đoàn thể, tuy nhiên, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh Đỗ Thị Lan cho rằng, khi dự án Luật đưa ra trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến, cần có sự giải thích rõ ràng trong Báo cáo việc hỗ trợ kinh phí, ngân sách Nhà nước đối với các tổ chức đặc thù, tránh gây sự so sánh giữa các Hội.

Không yêu cầu tất cả các hội phải đăng ký

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Nguyễn Khắc Định giải trình như vậy với các đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách trong buổi làm việc sáng 9-9. Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật giải thích, thực tế tồn tại rất nhiều loại hội và các hội ấy cũng hoạt động rất tốt. “Chắc mỗi người ngồi đây không thể không tham gia bất kỳ một hội gì”, ông Định nói và nêu ví dụ về các hội đồng hương, hội cựu học sinh… để minh họa cho khẳng định không thể yêu cầu tất cả các hội phải đăng ký để hoạt động. Tất cả những hội không đăng ký hoạt động vẫn được quyền hoạt động bình thường, vẫn được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ; đồng thời họ cũng vẫn phải tuân thủ pháp luật về hội, không được vi phạm điều cấm khi hoạt động.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Khắc Định cũng lưu ý, chỉ những hội đăng ký thành lập mới có tư cách pháp nhân, mới được cấp con dấu. Nếu đăng ký thì phải đáp ứng đủ các điều kiện thành lập hội có đăng ký theo quy định của luật.

Chuyên gia Nguyễn Ngọc Lâm nhấn mạnh, lập hội là quyền của người dân, không phải Nhà nước cho hay không. Theo dự án luật, hội ở nước ta gồm 2 loại là hội có đăng ký và hội không có đăng ký, các nước khác gọi là hội khai báo và hội không khai báo. Những hội không đăng ký thì sẽ không có tư cách pháp nhân, nên không được hưởng một số chính sách, như quyên góp của các tổ chức, cá nhân khác, không được kinh doanh bất động sản, không được nhân danh tổ chức để quan hệ với các tổ chức, cơ quan khác. Chính vì thế, ở các nước, các hội được thành lập có đăng ký rất nhiều.

Chuyên gia Nguyễn Ngọc Lâm nêu ý kiến, cần khuyến khích các hội thành lập và đăng ký hoạt động bằng cách đơn giản hóa thủ tục thành lập một cách gọn nhất, bởi các hội đăng ký hoạt động thì vừa lợi cho họ, lại vừa thuận cho công tác quản lý Nhà nước. Cần khuyến khích thành lập hội, vì chủ trương của Đảng cũng là khuyến khích thành lập nhiều hội hơn theo hướng ích nước, lợi nhà, tương thân, tương ái. Ở các nước, hoạt động của các hội rất mạnh, có thể đóng góp tới 10% GDP, nên hội còn có đóng góp lớn trong phát triển kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, với thủ tục như hiện nay, muốn thành lập và đăng ký hoạt động một hội phải mất rất nhiều thời gian, lại phải trải qua 2 thủ tục gồm đăng ký thành lập và phê duyệt điều lệ, nên chưa khuyến khích được việc phát triển các hội.

Đại biểu Hoàng Đức Thắng (Quảng Trị) cho rằng, tuy có hội đăng ký và hội không đăng ký, nhưng không nên khu biệt 2 loại hội này để quy định trong luật, dẫn tới sự vụn vặt. Đại biểu đề nghị chọn ra, nhóm lại những vấn đề chung nhất để quy định một cách khái quát.

Đại biểu Tô Văn Tám (Kon Tum) tán thành cách phân loại thành hội đăng ký và hội không đăng ký, nhưng đề nghị cần quy định rõ loại nào cần đăng ký, loại nào không cần đăng ký bằng phương pháp loại trừ. Theo đó, luật phải quy định rõ, loại hội nào phải đăng ký hoạt động. Những hội không thuộc phạm vi phải đăng ký hoạt động là thì không phải đăng ký hoạt động. Tiêu chí xác định hội đăng ký hoạt động có thể là phạm vi hoạt động và những hội hoạt động có tính chất chính trị-xã hội.

Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu khi kết luận về vấn đề này cũng nhất trí với đề xuất của chuyên gia Nguyễn Ngọc Lâm. Theo đó, nên khuyến khích các hội đăng ký hoạt động để vừa thuận lợi trong hoạt động của chính hội ấy, vừa thuận lợi cho hoạt động quản lý của Nhà nước.

 Theo quochoi.vn và quandoinhandan.vn

Lượt xem: 503

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.