Hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào dự án Luật Cảnh vệ và Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ

Ngày 16/2, tại trụ sở Công an Thành phố, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến vào các dự thảo: Luật Cảnh vệ; Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố chủ trì hội nghị.

Ngày 16/2, tại trụ sở Công an Thành phố, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến vào các dự thảo: Luật Cảnh vệ; Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố chủ trì hội nghị.

Phó Trưởng đoàn Ngọ Duy Hiểu tiếp thu các ý kiến đóng góp

Tại Hội nghị, đã có 20 ý kiến tham gia góp ý vào các nội dung chính của các dự thảo luật. Đa số đại biểu cho rằng, các dự án luật đã được chỉnh lý trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những ý kiến đóng góp và bảo lưu những quan điểm của cơ quan soạn thảo; thể hiện tinh thần sâu sắc mà các đại biểu đã thảo luận. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn cả về lý luận lẫn thực tiễn để bảo đảm tính khả thi, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của văn bản trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua.

 Về Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, các đại biểu đề nghị xem xét lại quy định hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý, sử dụng, sản xuất vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; cân đối, rà soát cùng với các quy định trong Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp để bảo đảm quyền tự do kinh doanh; cần đơn giản bớt các thủ tục hành chính liên quan đến cấp phép trang bị, sử dụng đối với vũ khí thô sơ và công cụ hỗ trợ; đa số đại biểu đều thống nhất theo phương án 1 tại Điều 15 quy định về việc nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, kinh doanh, sửa chữa, xuất khẩu, nhập khẩu vũ khí. Quy định về nổ súng tại Điều 21, các đại biểu cũng cho rằng, đây là vấn đề lớn, quan trọng nên cần hết sức thận trọng, theo đó, cần quy định lại các trường hợp không được phép nổ súng, đồng thời, nghiên cứu, thiết kế điều khoản trong những trường hợp nào được miễn trừ trách nhiệm hình sự để người thực thi công vụ yên tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Liên quan đến Dự thảo Luật Cảnh vệ, các đại biểu cho rằng, cần có sự đồng nhất, tránh trùng lặp trong việc bố trí kết cấu, bố cục nội dung các chương, điều; xem lại phạm vi điều chỉnh để bảo đảm bao quát hết được những nội dung chính của luật; gộp lại thuật ngữ “cảnh vệ” và viết lại các điều liên quan đến Khoản 6, Điều 3 cho hợp lý; quy định rõ hơn các nội dung về thi đua khen thưởng, xử lý vi phạm; cần thu hẹp đối tượng cảnh vệ; xem lại thẩm quyền quy định tại Khoản 3, Điều 17 về điều kiện, tuyển chọn vào lực lượng cảnh vệ; chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp thực hiện công tác cảnh vệ; quy định rõ khu vực cảnh vệ tại các địa phương cho phù hợp với tình hình thực tế…

Kết thúc hội nghị, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Ngọ Duy Hiểu thay mặt Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố ghi nhận, tiếp thu tất cả ý kiến đóng góp của các đại biểu đối với 2 dự thảo luật. Đồng thời, khẳng định Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố sẽ tổng hợp các ý kiến trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ./.

 THANH HÀ

Lượt xem: 427

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.