Kiểm tra công tác đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động và triển khai thi hành Luật Giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Nội dung kiểm tra tập trung vào công tác phổ biến, quán triệt triển khai Luật Giám định tư pháp để nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân có liên quan và toàn xã hội về vị trí, vai trò và nội dung của giám định tư pháp; kết quả bồi dưỡng nghiệp vụ giám định tư pháp và kiến thức pháp lý cho giám định viên; việc rà soát, lập và công bố danh sách đội ngũ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc và tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc... Thời gian kiểm tra dự kiến từ 02/6/2015 đến 15/6/2015.

Luật Giám định tư pháp được Quốc hội khoá XIII kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.

Luật gồm 8 chương với 46 điều quy định về giám định viên tư pháp; tổ chức giám định tư pháp; người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; hoạt động giám định tư pháp; chi phí giám định tư pháp, chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp và trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với tổ chức, hoạt động giám định tư pháp.

Sự ra đời của Luật Giám định tư pháp 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định 85/2013NĐ-CP, Thông tư 138/2013/TT-BTC… đã đánh dấu một bước phát triển mới trong hoạt động giám định tư pháp ở nước ta với những điểm mới căn bản.

Giám định tang vật vụ án - Ảnh minh họa

Luật Giám định tư pháp quy định đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu tự yêu cầu giám định tư pháp sau khi đã đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo (khoản 3, Điều 2). Quy định trên của Luật đã mở ra cơ hội mới, tạo điều kiện chủ động cho các bên đương sự chủ động thu thập chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đây là bước tiến đáng kể trong hoạt động tư pháp theo tinh thần cải cách tư pháp, tăng cường dân chủ hóa hoạt động tố tụng, góp phần mở rộng quyền tự do dân chủ của công dân, hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

Một điểm mới nữa trong quy định của Luật về tiêu chuẩn của giám định viên pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự là: Đối với người đã trực tiếp giúp việc trong hoạt động giám định ở tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự thì thời gian hoạt động thực tế chuyên môn chỉ cần từ đủ 03 năm trở lên (không phải 5 năm) cũng được xem xét bổ nhiệm giám định viên tư pháp. Riêng đối với người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự thì còn phải có Chứng chỉ đã được bồi dưỡng nghiệp vụ giám định. Sở dĩ có quy định này vì: do đặc thù của hoạt động giám định tư pháp trong các lĩnh vực này là người có chuyên môn về y tế hay kỹ thuật hình sự cũng chưa thể thực hiện giám định được theo yêu cầu (ví dụ: khi có một vết thương trên một người, một bác sĩ bình thường thì chỉ quan tâm đến vết thương đó dài, rộng, nông, sâu như thế nào? còn giám định viên pháp y cần ngoài việc xác định dài, rộng, nông, sâu cần phải xác định vết thương đó do vật nào gây nên, cơ chế tổn thương như thế nào để làm cơ sở cho việc điều tra, giải quyết vụ án).

Luật Giám định tư pháp quy định có 02 loại tổ chức giám định tư pháp, đó là: tổ chức giám định tư pháp công lập và tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập. Trong đó, tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập là một trong những điểm mới cơ bản của Luật Giám định tư pháp, mang tính cải cách đột phá trong hoạt động giám định tư pháp, qua đó tạo điều kiện ra đời những tổ chức giám định chuyên trách ngoài công lập, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu giám định tư pháp. Tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập hoạt động dưới hình thức Văn phòng giám định tư pháp, được thành lập trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả.

Để khắc phục khó khăn trong việc tìm kiếm, lựa chọn, trưng cầu tổ chức chuyên môn thực hiện giám định, nhất là trong những lĩnh vực không có tổ chức giám định tư pháp chuyên trách, gây ách tắc một số hoạt động tố tụng, Luật đã quy định rõ cơ chế lựa chọn, lập và công bố người giám định tư pháp theo vụ việc và các tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở các lĩnh vực không có tổ chức giám định tư pháp chuyên trách như xây dựng, tài chính, ngân hàng, văn hoá…; trách nhiệm của các bộ, ngành trong việc giới thiệu các chuyên gia, tổ chức chuyên môn có uy tín thực hiện giám định tư pháp để phục vụ kịp thời yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng.

Luật Giám định tư pháp là một đạo luật quan trọng, liên quan đến hoạt động của các cơ quan tố tụng, tổ chức giám định tư pháp, tổ chức và cá nhân khác được trưng cầu, yêu cầu giám định; đặc biệt, liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người giám định tư pháp, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cũng như những người tham gia tố tụng khác trong các vụ án. Bên cạnh đó, Luật cũng đặt ra những nhiệm vụ mới trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp.

Nhằm thiết thực nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp, UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định, Kế hoạch kiểm tra việc thực hiện Đ án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” và triển khai thi hành Luật Giám định tư pháp trên địa bàn Thành phố.

Nhằm đảm bảo hiệu quả việc thực hiện Đ án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” ban hành kèm theo Quyết định sổ 258/QĐ-TTg ngày 11/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi tt là Đ án 258); Luật Giám định tư pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội, Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án giám định tư pháp trên địa bàn Thành phố xây dựng kế hoạch kiếm tra việc thực hiện Đ án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” và trin khai thi hành Luật Giám đnh tư pháp tại một số sở, ngành và tổ chức giám định tư pháp trên địa bàn Thành phố với các nội dung cụ thể.

Mục đích chung thông qua kiểm tra đđánh giá việc triển khai thực hiện Đ án 258 của một số sở, ngành và tổ chức giám định tư pháp đồng thời nắm bắt những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước về giám định tư pháp của các sở, ngành và hoạt động giám định của các t chức giám định đế có hướng dẫn, tháo gỡ kịp thời; kịp thời tham mưu cho UBND Thành phố chỉ đạo thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động giám đnh tư pháp.

Ban chỉ đạo thực hiện Đề án 258 yêu cu các sở, ngành và tổ chức giám định tư pháp chuẩn bị báo cáo và bám sát nội dung, mục đích và các yêu cầu của việc trin khai thực hiện Đ án 258, Luật Giám định tư pháp. Việc kim tra thực hiện Đ án 258, Luật Giám định tư pháp đảm bảo thiết thực, hiệu quả và đúng tiến độ kế hoạch đã đề ra; không làm ảnh hưởng đến hoạt động của các sở, ngành và tổ chức giám định tư pháp được kiểm tra.

Đối tượng kiểm tra bao gồm: Công an Thành phố, Sở Y tế, Sở Xây dựng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố; Trung tâm pháp y Hà Nội. Nội dung kiểm tra tập trung vào công tác phổ biến, quán triệt triển khai Luật Giám định tư pháp để nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân có liên quan và toàn xã hội về vị trí, vai trò và nội dung của giám định tư pháp; kết quả bồi dưỡng nghiệp vụ giám định tư pháp và kiến thức pháp lý cho giám định viên; việc xây dựng và ban hành chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện Luật Giám định tư pháp tại các sở, ngành theo những nhiệm vụ, giải pháp đã được giao gắn vi chức năng, nhiệm vụ của từng sở, ngành; việc rà soát, lập và công b danh sách đội ngũ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc và t chức giám đnh tư pháp theo vụ việc; việc đảm bảo các nguồn lực (về tổ chức, bộ máy, con người, kinh phí, cơ sở vật chất cần thiết khác) cho việc triển khai thực hiện có hiệu quả Đ án 258, Luật Giám định tư pháp; việc thực hiện chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp theo Quyết định số 01/2014/QĐ-TTg ngày 01/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp; kết quả hoạt động giám định của đơn vị; những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Đ án 258, Luật Giám định tư pháp và những kiến nghị, đề xuất các giải pháp cụ thể để thực hiện hiệu quả Đ án 258, Luật Giám định tư pháp. Thi gian kiểm tra dự kiến từ 02/6/2015 đến 15/6/2015.

Cũng tại Kế hoạch kiểm tra việc thực hiện Đán “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” và triển khai thi hành Luật Giám định tư pháp trên địa bàn, Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án 258 đã giao Sở Tư pháp hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị được kiểm tra chuẩn bị báo cáo theo yêu cầu để phục vụ công tác kim tra;  chuẩn bị các điều kiện phục vụ công tác kiểm tra, tổ chức kiểm tra thực tế tại các đơn vị theo nội dung chi tiết và tổng hp báo cáo kết quả sau khi kết thúc thời gian thực hiện kiểm tra; theo dõi, đôn đốc các đơn vị thực hiện nội dung kết luận của Đoàn kiểm tra; tổng hợp, báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo về kết quả kiểm tra.

Luật Giám định tư pháp

Toàn văn Kế hoạch kiểm tra của Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án 258

QUỐC THỊNH

Lượt xem: 491

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.