Lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật MTTQ Việt Nam

Sáng ngày 9/4/2015, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi). Tham dự hội nghị có các vị ĐBQH Thành phố, đại diện Ủy ban MTTQ Thành phố và các quận, huyện, xã, phường, các Sở, ban, ngành Thành phố liên quan.

Sáng ngày 9/4/2015, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi). Tham dự hội nghị có các vị ĐBQH Thành phố, đại diện Ủy ban MTTQ Thành phố và các quận, huyện, xã, phường, các Sở, ban, ngành Thành phố liên quan.

Lãnh đạo Đoàn ĐBQH tiếp thu các ý kiến đóng góp

Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Quốc hội Khoá X thông qua ngày 12/6/1999, có ý nghĩa chính trị to lớn, là cơ sở pháp lý để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện hiệu quả quyền, trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát huy hơn nữa sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới theo tinh thần các Nghị quyết Đại hội X, XI của Đảng, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện hành đã bộc lộ một số hạn chế, cần được sửa đổi, bổ sung.

Tại hội nghị, đại diện Sở Tư pháp Hà Nội đề nghị bổ sung một điều quy định về giải thích từ ngữ vì trong dự thảo Luật có nhiều câu, nhiều từ, thuật ngữ cần định nghĩa và giải thích để thống nhất cách hiểu. Trong điều 3 dự thảo Luật nên thay tên điều thành “Quyền và nghĩa vụ Mặt trận tổ quốc Việt Nam” sẽ phù hợp hơn vì quyền lợi thường song hành cùng nghĩa vụ, nhiệm vụ bên cạnh đó các nội dung trong dự thảo cũng thể hiện rõ ràng đó là nhiệm vụ, nghĩa vụ phải làm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Theo ý kiến của đại biểu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc quận Hoàn Kiếm, quy định tại khoản 2 Điều 7 dự thảo về việc “Người đứng đầu Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp trách nhiệm thông tin kịp thời cho Mặt trận tổ quốc Việt Nam việc thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý của mình” là quá chung chung, không thể hiện rõ thời hạn báo cáo theo tháng, quý, năm hay báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Mặt trận, đề nghị quy định cụ thể hơn. Đề nghị bổ sung khoản 5 tại Điều 33 về đối tượng, nội dung, phạm vi phản biện xã hội là “Khi có những văn bản pháp luật, chương trình, đề án của cơ quan cùng cấp đang thực hiện liên quan đến quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc không phù hợp đời sống xã hội mà đông đảo cử tri và nhân dân kiến nghị, Ủy ban Mặt trận tổ quốc chủ trì phản biện để kiến nghị cơ quan thẩm quyền xem xét sửa đổi”.

Đại diện Hội Luật gia thành phố Hà Nội đề nghị cần bổ sung thêm quy định về xử lý vi phạm, vì vậy dự thảo luật có quy định hành vi cấm, quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận tổ quốc nên cần phải có một chương quy định về chế tài xử lý vi phạm.

Kết thúc hội nghị, đồng chí Chu Sơn Hà, Phó Trưởng đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đánh giá cao các ý kiến đóng góp tâm huyết của các đại biểu tham dự hội nghị. Trên cơ sở ý kiến đóng góp xây dựng của các đại biểu, Đoàn ĐBQH Thành phố sẽ tổng hợp báo cáo với Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp thu trước khi trình Quốc hội tại kỳ họp tới.

 THANH HÀ

Lượt xem: 444

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.