Lấy ý kiến vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp

Chiều ngày 18- 9 - 2014, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đã tổ chức lấy ý kiến đại biểu Quốc hội và các cơ quan liên quan vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và dự án Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

Chiều ngày 18- 9 - 2014, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đã tổ chức lấy ý kiến đại biểu Quốc hội và các cơ quan liên quan vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và dự án Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

Về nội dung góp ý Luật vào dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, đại diện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai cho rằng tại điểm b Khoản 4 Điều 44 đã sửa đổi trong Dự thảo cần thêm nội dung trường hợp Chấp hành viên đến xác minh trực tiếp thì phải phối hợp và cung cấp ngay thông tin, tài liệu theo yêu cầu của Chấp hành viên, vì như vậy mới đảm bảo được tính hiệu quả, kịp thời trong công tác xác minh, hạn chế và phòng ngừa sự cản trở, can thiệp vào thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nhất là trong giai đoạn khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin ngày càng phát triển như hiện nay.

Các đại biểu góp ý kiến vào dự thảo Luật

Về việc chưa có điều kiện thi hành án, dự thảo cần xem xét lại quy định tại Khoản 7 Điều 44 đã sửa đổi trong dự thảo về nội thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định việc chưa có điều kiện thi hành án. Đề nghị không thêm điều khoản này vào vì sẽ thêm thủ tục và không tạo sự chủ động, không gắn trách nhiệm cho Chấp hành viên trong việc phân loại việc có điều kiện và chưa có điều kiện thi hành án. Hơn nữa, giữa Khoản 7 Điều 44, điểm đ Khoản 1 Điều 44a và điểm a Khoản 1 Điều 48 đã sửa đổi trong Dự thảo có sự mâu thuẫn, trùng lắp, đó là trong trường hợp không, chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án thì theo các quy định trên sẽ phải vừa ra quyết định việc chưa có điều kiện thi hành (theo Khoản 7 Điều 44) và ra quyết định hoãn thi hành án (theo điểm đ Khoản 1 Điều 44a).

Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong thi hành án, dự thảo đã bỏ nội dung về đơn yêu cầu thi hành án (bãi bỏ các Điều 31, 32, 33, 34 của Luật hiện hành, theo đó bỏ cơ chế thi hành án chủ động và thi hành án theo đơn yêu cầu như quy định của Luật hiện hành là chưa phù hợp thực tiễn công tác thi hành án dân sự. Đề nghị giữ nguyên cơ chế phân loại án chủ động, án theo đơn như hiện hành, giữ nguyên quy định tại Điều 31, 32, 33, 34 của Luật hiện hành để đảm bảo các yếu tố: Việc giữ nguyên quy định về quyền yêu cầu thi hành án, đơn yêu cầu thi hành án như hiện hành đảm bảo nguyên tắc tự do, tự nguyện và quyền tự định đoạt về quyền và lợi ích của đương sự, do cá nhân tự định đoạt việc có quyết định yêu cầu thi hành án hay tự mình thực hiện hoặc từ bỏ quyền yêu cầu thi hành án; Việc giữ nguyên quy định về đơn yêu cầu thi hành án và phân loại án chủ động, án theo đơn yêu cầu đảm bảo việc phối hợp với cơ quan thi hành án trong việc thi hành án dân sự cũng như nghĩa vụ và trách nhiệm của người được thi hành án đối với hành vi và hậu quả hành vi của họ; phân định rõ loại việc công, thu tiền, tài sản cho nhà nước và loại việc thu cho tổ chức, cá nhân  khác;  Chủ trương hiện nay là xã hội hóa công tác thi hành án dân sự, khi bỏ cơ chế thi hành án theo đơn yêu cầu sẽ cản trở việc xã hội hóa, dẫn đến nhà nước “ôm việc”, sẽ có hệ quả phải thêm nhiều nhân sự, thủ tục, chi phí.

Theo đại diện Chi cục Thi hành án quận Hoàn Kiếm thì tại khoản 2 Điều 44: “Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 6 tháng một lần, Chấp hành viên phải thực hiện xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ hai năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới thì thời hạn xác minh giữa các lần không được quá một năm.”. Về quy định một năm xác minh lại 1 lần đối với trường hợp người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ hai năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới gặp rất nhiều khó khăn vì trước đây thực hiện theo khoản 5 Điều 6 Nghị định 58/CP thì chính quyền địa phương nơi tiến hành xác minh tỏ ra rất khó chịu với cơ quan Thi hành án vì họ cho đây là động tác thừa. Họ cho rằng bản thân bị án trước, trong và sau khi đi tù gia đình đã bán nhà chuyển đi nơi khác không xác định được nơi ở mới thì chưa có trường hợp nào quay về mua lại nhà cũ để ở hoặc gia đình bị án vẫn ở tại địa phương nhưng trước khi chấp hành hình phạt tù bị án không có tài sản gì, thì trong thời gian chấp hành hình phạt tù bị án không thể có tài sản để thi hành án.

* Về nội dung góp ý vào dự án Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp

Theo quan điểm của đại diện Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Hà Nội cho rằng về nguyên tắc phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp quy định tại Điều 34: Nhằm mục đích tăng vốn từ nguồn lợi nhuận để lại sử dụng vào đầu tư phát triển ngành, nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp, hạn chế việc Nhà nước phải đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp, đề nghị dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung như sau:

-  Trích tối thiểu 30% lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp sử dụng vào mục đích đầu tư phát triển ngành, nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp.

-  Trích không quá 3 tháng lương thực hiện để lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi của người lao động và không quá 1,5 tháng lương thực hiện để lập quỹ thưởng người quản lý doanh nghiệp trên cơ sở hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được Nhà nước giao.

-  Phần lợi nhuận sau thuế còn lại được để lại doanh nghiệp sử dụng vào mục đích đầu tư phát triển ngành, nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp."

Luật gia Vũ Xuân Tiền, Uỷ viên BCH Hội Luật gia Hà Nội đặt vấn đề cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp - đây là nội dung có vị trí quan trọng. Khi chưa có cải cách đột phá về vấn đề này thì việc ban hành Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp sẽ không giải quyết được vấn đề gì.

Theo ông thì tại Khoản 1, Điều 3 của dự thảo Luật quy định: " Cơ quan đại diện chủ sở hữu là cơ quan, tổ chức được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do mình quyết định thành lập hoặc được giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên". Tuy nhiên, "Cơ quan đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp" là cơ quan nào? Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, trong lịch sử quản lý Doanh nghiệp Nhà nước trên thế giới đã có hai mô hình đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp gồm:

-  Mô hình quản lý tập trung là mô hình giao trách nhiệm đại diện quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp về một cơ quan của Chính phủ;

-  Mô hình quản lý phân tán là mô hình phân cấp quản lý vốn nhà nước từ Thủ tướng Chính phủ, các Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh. Đây chính là mô hình Cơ quan chủ quản đang áp dụng ở nước ta từ trước đến nay.

Hiện nay có hai nhóm ý kiến khác nhau. Nhóm thứ nhất đề nghị thực hiện theo mô hình thứ nhất, tức là thành lập một cơ quan đại diện chủ sở hữu DNNN thuộc Chính phủ, chấm dứt cơ chế Bộ chủ quản như hiện nay. Dự thảo Luật sẽ theo mô hình nào? Với dự thảo Luật, câu hỏi trên chưa có câu trả lời. Phải chăng, Ban soạn thảo cũng "lách luật" để sau khi Luật được ban hành sẽ quy định cụ thể hơn, tránh những ý kiến trái chiều?

Ông đề nghị: Lựa chọn mô hình thứ nhất tức mô hình quản lý tập trung thay cho mô hình hiện tại. Điều đó có nghĩa là, cần "chia tay" với cơ chế chủ quản hiện nay. Bởi lẽ, giữ nguyên cơ chế chủ quản tức là kiên trì với "lối cũ ta về" và không phù hợp với cơ chế thị trường. Cách đây 10 năm, việc nghiên cứu để xoá bỏ cơ chế chủ quản đã được đặt ra vì những lý do sau:

Thứ nhất, cơ chế cơ quan chủ quản là các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh không cho phép tách bạch giữa chức năng quản lý Nhà nước và chức năng quản lý kinh doanh. Đây là vấn đề đã được nêu trong rất nhiều nghị quyết, hội nghị, hội thảo. Nhưng đến nay chưa có hướng giải quyết và sẽ không giải quyết được nếu vẫn giữ mô hình hiện tại.

Thứ hai, cơ chế chủ quản như hiện nay đã biến các DNNN thành "cánh tay nối dài" của các cơ quan hành chính gồm các Bộ và UBND cấp tỉnh. Đó cũng chính là phương thức quản lý " vừa đá bóng, vừa thổi còi" - một phương thức tối kỵ trong quản lý kinh tế và xã hội. Từ đó, "lợi ích nhóm" hình thành và yêu cầu công khai, minh bạch sẽ chỉ là quy định trên giấy mà thôi! Không ngẫu nhiên mà một số tổ chức tài chính quốc tế như WB, ADB...khi cho Việt Nam vay vốn thực hiện dự án đã đặt điều kiện: Những doanh nghiệp thuộc sự quản lý của chủ đầu tư (là các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh) không được tham gia đấu thầu.

Thứ ba, cơ chế chủ quản hiện nay đã tạo ra những "doanh nhân bất đắc dĩ" khi giao cho Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh làm đại diện vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Đó là những quan chức, những chính khách không thể đủ điều kiện để trở thành doanh nhân ít nhất là về mặt thời gian.

Thứ tư, do có những "doanh nhân bất đắc dĩ" là các quan chức, công tác kiểm tra, thanh tra đối với các DNNN mà họ làm "đại diện chủ sở hữu" hầu như không có kết quả.Việc rất nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm  toán đối với Vinashin, Vinalies nhưng không phát hiện ra điều gì lớn là bằng chứng  cụ thể và sinh động.

Ông Tiền lo ngại rằng, nếu thành lập một cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ để quản lý các DNNN sẽ làm cho bộ máy hành chính phình to hơn. Lo ngại đó là đúng. Song,  nếu có một cơ quan như vậy để khắc phục tình trạng "vừa đá bóng, vừa thổi còi" trong quản lý doanh nghiệp; tách bạch giữa chức năng quản lý Nhà nước với quản lý kinh doanh; hạn chế tối đa lợi ích nhóm và chống tham nhũng, lãng phí trong các DNNN có hiệu quả hơn thì rất cần thực hiện.

Thay mặt Đoàn ĐBQH Thành phố, đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hà, Thành ủy viên, Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tiếp thu và đánh giá cao những ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự Hội nghị và khẳng định, những ý kiến của các đại biểu phát biểu tại Hội nghị sẽ được Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tổng hợp trình lên Ban soạn thảo để nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung vào các điều, khoản của Luật và trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tới.

Đình Hoàng

Lượt xem: 411

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.