Luật Đất đai sửa đổi: Bước tiến lớn bảo vệ hài hòa quyền lợi của nhà nước và người dân

Cần khẳng định rằng, đất đai là một trong những vấn đề hệ trọng của đất nước, là mối quan tâm của toàn xã hội, thiết thân với mỗi người, mỗi gia đình, với từng địa phương, từng doanh nghiệp và từng tổ chức... Luật Đất đai sửa đổi được Quốc hội thông qua lần này là phù hợp với chế định về đất đai được quy định trong Hiến pháp sửa đổi. Luật đã xử lý trúng những vấn đề phát sinh về quản lý, sử dụng đất trong thời kỳ đổi mới đất nước, nhất là những tồn tại về cơ chế thu hồi và bồi thường khi thu hồi đất, nhằm đảm bảo không để lãng phí tài nguyên đất đai.

Cần khẳng định rằng, đất đai là một trong những vấn đề hệ trọng của đất nước, là mối quan tâm của toàn xã hội, thiết thân với mỗi người, mỗi gia đình, với từng địa phương, từng doanh nghiệp và từng tổ chức... Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các thể chế, chính sách pháp luật đất đai sẽ tác động lớn đến phát triển kinh tế cũng như ổn định chính trị - xã hội. Luật Đất đai sửa đổi được Quốc hội thông qua lần này là phù hợp với chế định về đất đai được quy định trong Hiến pháp sửa đổi. Luật đã xử lý trúng những vấn đề phát sinh về quản lý, sử dụng đất trong thời kỳ đổi mới đất nước, nhất là những tồn tại về cơ chế thu hồi và bồi thường khi thu hồi đất, nhằm đảm bảo không để lãng phí tài nguyên đất đai. 

So với Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai sửa đổi có 14 chương với 212 điều, tăng 7 chương và 66 điều. Luật Đất đai sửa đổi đã quy định cụ thể hóa các quyền nghĩa vụ của Nhà nước đối với người sử dụng đất như: Quy định về những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; trách nhiệm của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người trực tiếp sản xuất nông nghiệp; trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp thông tin đất đai cho người dân.

Sử dụng hiệu quả đất đai là yêu cầu bức thiết của đất nước (Ảnh minh họa)

Vấn đề được người dân quan tâm nhất đã được Luật Đất đai sửa đổi xác định rõ và quy định cụ thể những trường hợp mà Nhà nước phải thu hồi đất (như Hiến pháp vừa mới được thông qua) nhằm khắc phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận xấu trong xã hội.

Luật quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có  đất thu hồi; đồng thời khắc phục và điều tiết một cách hài hòa lợi ích giữa Nhà nước là chủ sở hữu về đất đai, người sử dụng đất và nhà đầu tư.

Luật Đất đai sửa đổi đã tháo gỡ những nút thắt trong việc bồi thường khi thu hồi đất, vấn đề mà bấy lâu đã từng gây bức xúc trong dư luận, là nguyên nhân gây ra những vụ khiếu kiện kéo dài, gây mất ổn định xã hội. Điểm toát lên của Luật trước tiên là bồi thường một cách công bằng cho những người bị thu hồi đất và những người chịu ảnh hưởng bất lợi từ việc thu hồi đất. Theo Luật Đất đai 2003, việc thu hồi đất phần lớn thực hiện theo phương thức bắt buộc; trong khi đó, việc giao lại đất thường gây ra sự không công bằng trong chia sẻ lợi ích giữa những người sử dụng đất trước và sau khi thu hồi. 

Do vậy, hình thức thu hồi đất theo phương thức bắt buộc (Luật Đất đai 2003) đã được sửa đổi theo hướng thay đổi phạm vi được phép thu hồi đất, chỉ áp dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh và phục vụ cho các dự án vì lợi ích công cộng như đường giao thông, công viên và trường học..., bảo đảm được quyền lợi của người dân cũng như sự phát triển chung của đất nước. Bên cạnh đó, cơ chế thu hồi đất tại Luật Đất đai sửa đổi được quy định cụ thể hơn; làm rõ thẩm quyền cho phép để tránh tùy tiện trong thu hồi đất; đồng thời khẳng định, không phải bất kỳ dự án kinh tế- xã hội nào cũng thu hồi đất. Quy định này đã xóa bỏ được tình trạng lạm dụng, tùy tiện trong thu hồi đất thời gian vừa qua, gây thiệt thòi lớn cho người dân có đất bị thu hồi. Từ đó, ngăn chặn tình trạng tham nhũng, “đi đêm” giữa doanh nghiệp, nhà đầu tư với một số cán bộ cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. 

Luật cũng quy định các trình tự, thủ tục cưỡng chế để áp dụng thống nhất trong cả nước; quy định cụ thể về việc bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra; bổ sung quy định về bồi thường đối với đất phi nông nghiệp của cộng đồng dân cư, các quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất...

Quyền và lợi ích của những người sử dụng đất hợp pháp được thể hiện rõ trong việc cấp Giấy chứng nhận và bảo đảm thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Đồng thời khắc phục một cách cơ bản những trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với việc thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước đảm bảo sự bình đẳng giữa những người sử dụng đất và ổn định chính trị xã hội ở nông thôn.

Luật Đất đai sửa đổi cũng quy định đầy đủ, rõ ràng các đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất và điều kiện để triển khai thực hiện các dự án đầu tư để Nhà nước giao đất, cho thuê đất. Qua đó, có thể khắc phục một cách có hiệu quả việc giao đất, cho thuê đất một cách tràn lan chưa tính đến năng lực của các chủ đầu tư trong việc triển khai các dự án gây nên tình trạng sử dụng đất lãng phí, kém hiệu quả như trong thời gian vừa qua.

Ưu điểm của Luật Đất đai sửa đổi lần này là quy định rõ chế tài xử lý tình trạng quy hoạch treo và tháo gỡ những bất hợp lý trong việc định giá đất đền bù. Việc điều chỉnh khung giá đất, bảng giá đất theo biến động thị trường cũng được bổ sung vào luật. Theo đó, Chính phủ ban hành khung giá đất định kỳ 5 năm một lần với từng loại đất, theo từng vùng. Trong thời gian thực hiện khung giá đất mà giá đất phổ biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá tối thiểu trong khung thì Chính phủ điều chỉnh khung cho phù hợp. 

Luật Đất đai sửa đổi đã mở rộng thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sản suất nông nghiệp; mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đáp ứng yêu cầu tích tụ đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại phù hợp với đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được nêu trong Nghị quyết 26 của BCH Trung ương Đảng.

Mặt khác, Luật sửa đổi cũng đã quy định đầy đủ hơn sự bình đẳng về sử dụng đất giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài phù hợp với yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới nhằm thu hút đầu tư của các Nhà đầu tư nước ngoài.

Điểm đặc biệt trong Luật sửa đổi lần này lã đã bổ sung các quy định mới về hệ thống thông tin, hệ thống giám sát, theo dõi, đánh giá một cách công khai, minh bạch và đảm bảo dân chủ trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân

Việc Quốc hội thông qua Luật Đất đai sửa đổi khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; đồng thời cũng thể hiện rõ trách nhiệm cao của Quốc hội trước cử tri và đồng bào cả nước.

Quốc Thịnh

Lượt xem: 415

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.