Nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội

Văn phòng Quốc hội vừa có văn bản số 2159/VPQH-GS ngày 07/9/2015 về việc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi tới Kỳ họp thứ 9 Quốc hội. Theo đó, cử tri đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục nghiên cứu cải tiến hình thức và nội dung chất vấn bảo đảm khoa học, tăng tính đối thoại, tranh luận, tập trung vào trọng tâm vấn đề chất vấn; tăng thời lượng dành cho hoạt động chất vấn tại kỳ họp Quốc hội từ 2,5 ngày lên 03 ngày; tăng cường giám sát việc thực hiện lời hứa của các Bộ trưởng, Trưởng ngành và thông tin tới cử tri kết quả việc thực hiện.

Văn phòng Quốc hội vừa có văn bản số 2159/VPQH-GS ngày 07/9/2015 về việc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi tới Kỳ họp thứ 9 Quốc hội. Theo đó, cử tri  đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục nghiên cứu cải tiến hình thức và nội dung chất vấn bảo đảm khoa học, tăng tính đối thoại, tranh luận, tập trung vào trọng tâm vấn đề chất vấn; tăng thời lượng dành cho hoạt động chất vấn tại kỳ họp Quốc hội từ 2,5 ngày lên 03 ngày; tăng cường giám sát việc thực hiện lời hứa của các Bộ trưởng, Trưởng ngành và thông tin tới cử tri kết quả việc thực hiện.

Về nội dung này, Văn phòng Quốc hội cho biết, về nghiên cứu cải tiến để hoạt động chất vấn bảo đảm khoa học, tăng tính đối thoại, tranh luận, tập trung vào trọng tâm vấn đề chất vấn: Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 27/2012/QH13 về một số cải tiến, đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trong đó Điều 3 có quy định: “Quốc hội dành toàn bộ thời gian của phiên họp chất vấn tại hội trường để chất vấn trực tiếp. Trên cơ sở chất vấn của đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến lựa chọn một số nhóm vấn đề quan trọng, được cử tri, đại biểu Quốc hội quan tâm để chất vấn tại Hội trường. Đại biểu Quốc hội đăng ký chất vấn theo nhóm vấn đề, tiến hành chất vấn từng nhóm vấn đề theo hướng đối thoại, tranh luận. Câu hỏi chất vấn ngắn gọn, rõ ý, không giải thích dài hoặc chỉ hỏi thông tin. Thời gian tối đa cho một lần hỏi không quá 2 phút. Người trả lời chất vấn phải trả lời ngắn gọn, trực tiếp, cụ thể vào nội dung của câu hỏi; thời gian trả lời theo yêu cầu của chủ tọa...

Thực hiện quy định nêu trên, thời gian qua, hoạt động chất vấn được tiến hành theo cách thức chọn một số nhóm vấn đề quan trọng được đại biểu Quốc hội và cử tri quan tâm để đưa ra chất vấn. Việc chất vấn theo nhóm vấn đề đã tạo điều kiện để người hỏi và người trả lời tăng cường đối thoại, tranh luận, đi sâu vào từng vấn đề. Câu hỏi của đại biểu Quốc hội nhìn chung là ngắn gọn, rõ ràng, tập trung vào nhóm vấn đề đưa ra. Các thành viên Chính phủ đã trả lời đầy đủ chất vấn của đại biểu Quốc hội và nghiêm túc đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ được giao, thẳng thắn liên hệ với trách nhiệm của mình. Chủ tọa phiên họp chất vấn đã chủ động, linh hoạt để điều hành theo đúng quy định và phù hợp với diễn biến thực tế, hạn chế được tình trạng hỏi và trả lời dài dòng, không đúng trọng tâm. Tính dân chủ, thẳng thắn, đối thoại trên tinh thần xây dựng trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn ngày càng được phát huy.

Tuy nhiên, kỹ năng hỏi và trả lời phụ thuộc nhiều vào năng lực của mỗi cá nhân đại biểu Quốc hội nên trong thực tế triển khai hoạt động chất vấn vẫn còn một số hạn chế nhất định. Ngay sau mỗi kỳ họp, trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, ý kiến của cử tri, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức hữu quan, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận, đánh giá, rút kinh nghiệm về kỳ họp, trong đó có rút kinh nghiệm về tổ chức hoạt động chất vấn, để kịp thời có những điều chỉnh cho phù hợp.

Về tăng thêm thời gian dành cho hoạt động chất vấn tại kỳ họp, Văn phòng Quốc hội khẳng định, từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII đến nay, hoạt động giám sát nói chung và hoạt động chất vấn nói riêng ngày càng được coi trọng và tăng cường hơn trước. Trong đó, hoạt động chất vấn trước đây chỉ được tổ chức tại kỳ họp Quốc hội, nay đã được tổ chức thường xuyên ở cả 2 phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong năm. Thời gian dành cho hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp luôn được Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cân nhắc phù hợp với nội dung, chương trình kỳ họp và ý kiến của đa số đại biểu Quốc hội.

Qua thực tế tổ chức hoạt động chất vấn và trên cơ sở tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội trong quá trình xin ý kiến, hoàn thiện chương trình kỳ họp, Vãn phòng Quốc hội thấy rằng, trong giai đoạn hiện nay, tại mỗi kỳ họp, Quốc hội tiến hành chất vấn 05 thành viên Chính phủ với thời gian 0,5 ngày dành cho mỗi người là phù hợp. Đồng thời, trên cơ sở nội dung, chương trình tại mỗi kỳ họp, Văn phòng Quốc hội sẽ tham mưu, đề xuất Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét điều chỉnh tăng thêm thời gian cho hợp lý hơn. Như tại kỳ họp thứ 6 và thứ 8 vừa qua, thời gian dành cho hoạt động chất vấn và xem xét việc thực hiện nghị quyết về chất vấn đã được tăng thêm, từ 2,5 ngày lên 03 ngày để phù hợp với tình hình thực tế.

Về tăng cường giám sát việc thực hiện lời hứa của các Bộ trưởng, Trưởng ngành sau hoạt động chất vấn và thông tin tới cử tri kết quả việc thực hiện: Hiện nay, sau mỗi phiên họp chất vấn, Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc chất vấn và trả lời chất vấn. Nghị quyết này là cơ sở cho việc giám sát thực hiện những lời hứa, nội dung trả lời chất vấn của các Bộ trưởng, Trưởng ngành tại phiên họp chất vấn. Trong nghị quyết, Quốc hội yêu cầu Chính phủ, các thành viên Chính phủ tiếp tục có kế hoạch thực hiện các nội dung đã trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội tại các kỳ họp và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp tiếp theo. Đồng thời, Quốc hội đã không ngừng đổi mới cách thức giám sát, từ chỉ nghe đại diện Chính phủ trình bày báo cáo việc thực hiện các nghị quyết, kết luận về chất vấn và trả lời chất vấn (tại kỳ họp thứ 6), đến xem xét, thảo luận, trực tiếp chất vấn đại diện của Chính phủ về việc thực hiện các nghị quyết, kết luận về chất vấn và trả lời chất vấn (tại kỳ họp thứ 8). Việc Quốc hội định kỳ đưa nội dung xem xét Báo cáo việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn vào chương trình kỳ họp là nội dung rất quan trọng, là bước đôi mới cần thiết trong hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, với mục đích để các nghị quyết của Quốc hội được triển khai đồng bộ, toàn diện và phát huy hiệu quả thiết thực trong cuộc sống. Đặc biệt, năm 2015 là năm cuối nhiệm kỳ, Văn phòng Quốc hội đã tham mưu để Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội đưa vào chương trình giám sát nội dung “Xem xét việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về hoạt động giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến năm 2015”.

Theo Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Văn Phòng, vừa qua, để có cơ sở tham mưu, phục vụ Quốc hội tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn, đóng góp thiết thực vào việc sửa đổi Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội đã tổ chức một cuộc tọa đàm tại Vĩnh Phúc do đồng chí Nguyễn Hạnh Phúc, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội chủ trì; tiếp đó, dưới sự chỉ đạo của Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn, Văn phòng Quốc hội tổ chức một cuộc Hội thảo tại thành phố Đà Nẵng về chủ đề “Nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn của Quốc hội gắn với thực hiện Hiến pháp”. Trong thời gian tới, Văn phòng Quốc hội sẽ tiếp tục nghiên cứu, tham mưu, đề xuất những giải pháp, biện pháp cụ thể (như sử dụng Phiếu đánh giá kết quả chất vấn sau mỗi kỳ họp; tăng thời gian dành cho hoạt động chất vấn; tham gia ý kiến sửa đổi một số quy định tại Luật hoạt động giám sát; tăng cường công tác giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội...) để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động chất vấn, đáp ứng nguyện vọng của cử tri và nhân dân.

Toàn văn văn bản trả lời của Văn phòng Quốc hội.

QUỐC THỊNH

Lượt xem: 660

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.