Nâng cao hiệu quả công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, việc sửa đổi và nâng tầm pháp lý những quy định hiện hành về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, hải đảo, đồng thời bổ sung các quy định còn thiếu để xây dựng và ban hành Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo là cần thiết và là yêu cầu thực tiễn khách quan.
Việt Nam có chiều dài đường bờ biển trên 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng gấp khoảng ba lần diện tích đất liền, chứa đựng nhiều hệ sinh thái quan trọng và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng. Biển có tính chất đặc thù, là không gian liên thông; tài nguyên biển có tính chất chia sẻ; chất lượng môi trường biển bị chi phối rất mạnh bởi các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên ở khu vực ven bờ…
San hồ trên đảo Trường Sa
Ở nước ta, phương thức quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển, hải đảo đã là phương thức được áp dụng từ năm 2009. Tuy nhiên, thực tiễn công tác này cho thấy còn một số vấn đề tồn tại, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý tổng hợp, thống nhất đặt ra.
Cụ thể như Luật Biển Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 01/01/2013) chỉ có một chương quy định về phát triển kinh tế biển, nhưng mới chỉ đề cập đến một số nội dung liên quan đến quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển, nhiều nội dung quy định còn thiếu, chưa đầy đủ và đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu triển khai thực hiện phương thức quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên, môi trường biển và hải đảo dựa trên tiếp cận hệ sinh thái.
Thêm vào đó, hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo của các ngành, lĩnh vực, đặc biệt là ở vùng bờ (vùng đất ven biển và vùng biển ven bờ) do thiếu các quy định và công cụ hiệu quả để triển khai quản lý tổng hợp vùng bờ (Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ, Chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ,…) nên dẫn đến tình trạng một số chức năng của vùng bờ bị khai thác quá mức, đồng thời ảnh hưởng tới các chức năng khác của vùng biển, làm cho tài nguyên biển và hải đảo dần bị suy thoái, tình trạng ô nhiễm môi trường biển tiếp tục diễn biến phức tạp, nhiều hệ sinh thái quan trọng như rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn... bị tổn thương, dẫn tới sự nghèo nàn của nguồn lợi thủy sản...
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, việc sửa đổi và nâng tầm pháp lý những quy định hiện hành về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, hải đảo, đồng thời bổ sung các quy định còn thiếu để xây dựng và ban hành Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo là cần thiết và là yêu cầu thực tiễn khách quan.
Dự thảo Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường trong phạm vi vùng bờ, hải đảo và vùng biển Việt Nam, bao gồm chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ; điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; quản lý tài nguyên hải đảo; kiểm soát ô nhiễm môi trường, ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc và nhận chìm ở biển; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
Ban hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo chính là để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, phục vụ quản lý nhà nước về biển, hải đảo có hiệu quả hơn đặc biệt là trong các hoạt động điều tra, thăm dò, khai thác, sử dụng các loại tài nguyên, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển và hải đảo.
QUỐC THỊNH
Lượt xem: 483
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.