Nhân việc sửa Hiến pháp năm 1992, lại suy ngẫm về những quan điểm pháp lý sâu sắc trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bản “Tuyên ngôn độc lập” mãi được coi là căn cứ pháp lý đầu tiên, quan trọng nhất của Hiến pháp năm 1946 và các bàn Hiến pháp sau này, là cơ sở, nền móng cho Đảng ta, nhân dân ta nhận thức đầy đủ về chủ quyền quốc gia, dân tộc; từ đó quyết tâm xây dựng, bảo vệ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

                 Ngày 2/9/1945, tại cuộc mít tinh lớn ở Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” tuyên bố với quốc dân đồng bào, với toàn thế giới một sự kiện vô cùng ý nghĩa và trọng đại là: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời - Một nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á. Đó là thành quả bao thế hệ người Việt Nam hy sinh anh dũng chống lại thực dân đế quốc và bọn tay sai phản động để giành lại chủ quyền, độc lập cho quốc gia, cho dân tộc. Đó là thắng lợi vĩ đại của việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào thực tiễn cách mạng ở Việt Nam, vào thực tiễn một nước thuộc địa nửa phong kiến, đấu tranh giành độc lập, chủ quyền dân tộc. Bản “Tuyên ngôn độc lập” báo hiệu sự sụp đổ, phá sản của chế độ thực dân, phong kiến mở ra một trang sử mới hào hùng của dân tộc Việt Nam, tiếp bước đi lên, đấu tranh giành lại độc lập tự do, chủ quyền toàn vẹn Tổ quốc; là cơ sở pháp lý sâu sắc để xây dựng một nhà nước pháp quyền Việt Nam, một nhà nước của dân, do dân và vì dân.

 

Quảng trường Ba Đình - Nơi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập

Giở lại những trang sử vàng về dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đã có ít nhất là 2 lần ông cha ta viết nên những lời tuyên ngôn đanh thép, có tình có lý về chủ quyền quốc gia, về độc lập dân tộc. Bản tuyên ngôn thứ nhất chính là bài thơ thần của Lý Thường Kiệt đọc bên bờ sông Như Nguyệt trước hàng vạn quân dân ta và trước hàng vạn quân xâm lược nhà Nam Tống. Lý Thường Kiệt viết rằng: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm. Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. Được dịch là: “Nước nam là của vua Nam ở. Rành rành định phận tại sách Trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm. Chúng bay ắt bị đánh tơi bời”

Sau khi kháng chiến 10 năm chống giặc Minh giành được thắng lợi, Nguyễn Trãi thay mặt quân và dân ta viết bản “Đại cáo Bình Ngô” hay “Bình Ngô đại cáo” đây được coi là Bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của nước Nam ta. “Bình Ngô đại cáo” đã tổng kết về những năm tháng quân và dân ta gian khổ, hy sinh anh dũng đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh diành lại chủ quyền quốc gia, dân tộc. Ngay từ những dòng đầu đã viết rõ ràng và cụ thể, tuyên bố cho dân ta biết, cho kẻ xâm lược biết v“Bình Ngô đại cáo” về tầm vóc, bề thế, chủ quyền của nước ta: “...Như nước Đại Việt ta từ trước . Vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia. Phong tục Bắc Nam cũng khác. Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ mỗi phương...”.

Đến bản “Tuyên ngôn độc lập” năm 1945; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống anh dũng, kiên cường, trí tuệ và hòa khí tinh anh của ông cha ta xưa, cộng với sự tư duy sáng tạo, thông minh, nhìn xa trông rộng; có sự tham khảo những quan điểm đúng đắn về chủ quyền quốc gia, quyền của con người trong 2 bản tuyên ngôn của nước Pháp (1776) và nước Mỹ (1791), đó là những nước đã xâm lược, gây bao đau thương cho dân tộc Việt Nam. Với lối văn chính luận, câu chữ chọn lọc, súc tích, đễ hiểu, Người viết: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đề sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”, đó là những quyền rất cơ bản của mỗi dân tộc, của mỗi con người; đó là sự nhận thức đúng đắn, rất nhân đạo, nhân văn... Sự khẳng định ấy là để đập lại, tố cáo, lên án những quốc gia nào, kẻ nào đi xâm lược, tước đi những quyền cơ bản của quốc gia khác, của người khác. Từ việc khẳng định các quyền trên, Người tổng quát về cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường của nhân dân ta nhằm mục đích đòi lại các quyền của quốc gia, dân tộc và nói rõ mục đích, tương lai mà quốc gia, dân tộc phải gây dựng, hướng tới; Người viết tiếp: “ Pháp chạy, Nhật hàng, Vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập, dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”. Như vây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đưa vào “Tuyên ngôn độc lập” tuyên bố cho toàn thể dân dân Việt Nam, và cho toàn thể thế giới biết, đồng thời cũng là sự khẳng định, mục tiêu, nguyện ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của toàn dân tộc Việt Nam về “Nước Việt Nam độc lập” sẽ xây dựng và phát triển theo chế độ “Dân chủ cộng hòa”; một nước do nhân dân làm chủ. Quan điểm “Dân là gốc của nước”, “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” ấy chính là chân lý của cha ông ta xưa, là sức mạnh vô địch trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước; cũng là chân lý không thể phủ nhận “Quần chúng là người làm nên lịch sử” của chủ nghía Mác-Lê Nin! Dân đã không tiếc máu, xương hy sinh hết thảy để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nước không có dân thì không thành nước. Dân cung cấp những người ưu tú nhất cho Đảng, cung cấp cán bộ, viên chức cho các cơ quan nhà nước; bảo vệ Đảng, bảo vệ nhà nuớc... Có thể nói, Người đã lập luận biện chứng về mệnh đề “Nước Việt Nam độc lập” gắn bó khăng khít với nó là “Chế độ dân chủ cộng hòa”. Theo Người thì nước độc lập mà dân không được làm chủ cũng coi như vô nghĩa. Muốn dân làm chủ thực sự, nhà nước ấy nhất thiết phải được xây dựng theo “Chế độ dân chủ cộng hòa”. Căn cứ vào “Tuyên ngôn độc lập” thì nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đó là một thể chế đảm bảo sự bình đẳng của mọi người – mọi công dân khi tham gia vào công việc chung của nhà nước. Bộ máy nhà nước được xây dựng sẽ bắt nguồn từ việc toàn dân tham gia bầu cử trực tiếp, bình đẳng và phổ thông đầu phiếu. Ngay sau bản “Tuyên ngôn độc lập”, ngày 3/9/1945 tức sau một ngày, tại Bắc Bộ phủ, Hồ Chí Minh đã chủ trì phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời. Người nêu một trong những nhiệm vụ cấp bách là phải tổng tuyển cử để nhân dân thực hiện dân chủ; toàn dân tham gia bầu cử, lựa chọn những người đại diện tham gia vào bộ máy Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 20/9/1945, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 34 thành lập Ủy ban soạn thảo Hiến pháp và sắc lệnh số 39 về thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt Nam thống nhất. Ngày 6/1/1946, cuộc bầu cử phổ thông, thể hiện quyền dân chủ của nhân dân ta lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến và lập pháp đã diễn ra thu được kết quả tốt đẹp trên đất nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trúng cử với số phiếu cao nhất 98,4%.

Với tinh thần và định hướng của bản “Tuyên ngôn độc lập”, trong bối cảnh thù trong giặc ngoài, vận nước lúc bấy giờ như ngàn cân treo sợi tóc, dưới sự lãnh đạo của Đảng lao động Việt Nam và sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 9/11/1946 Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta. Tại Điều 1 Hiến pháp 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu ghèo, giai cấp, tôn giáo”. Điều 32 Hiến pháp 1946 ghi rõ: “Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phán quyết”.

Trong những năm tháng đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ; mọi công việc đã được thực hiện theo đúng những chủ trương, định hướng lớn mà bản “Tuyên ngôn độc lập” đề ra. Đoạn cuối của bản “Tuyên ngôn độc lập” Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào, một lần nữa khẳng định chủ quyền quốc gia và ý trí sắt đá của cả dân tộc quyết tâm bảo vệ thành quả ấy: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng tính mạng và của cải để giữ vững quyền tư do độc lập ấy”. Thấm nhuần Bản “Tuyên ngôn độc lập”, trong suốt quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ; và ngày nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đường lối xây dựng hoàn thiện chế độ dân chủ - chế độ làm chủ của nhân dân, xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân đã giúp cho Đảng ta, quân và dân ta giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong đó có những kỳ tích vô cùng to lớn, có ý nghĩa trọng đại không những chỉ với Đảng ta, nhân dân ta mà cón là biểu tượng, tấm gương đối với các quốc gia, các dân tộc đang bị áp bức trên thế giới về sự anh dũng kiên cường, quyết tâm giành độc lập tự do cho tổ quốc, đó là: Chiến thắng Điện Biên phủ năm 1954, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975 đưa non sông trở về một mối, cả nước độc lập, thống nhất...

Từ năm 1946 đến nay, nước ta đã 4 lần xây dựng, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Có thể nói tư tưởng về xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân được nêu trong bản “Tuyên ngôn độc lập” chính là nội dung cơ bản của Hiến Pháp. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ được coi là nguyên tắc chủ yếu, cơ bản nhất thể hiện trong Hiến pháp. Ngày nay, trong bối cảnh quốc tế, khu vực đang có những diễn biến phức tạp. Cùng với quá trình tiếp tục đổi mới, yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì việc phải xem xét sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 để có một bản Hiến pháp phù hợp là một tất yếu đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam phải thực hiện. Bản “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc ta trong quá trình dựng nước và giữ nước; là di sản quý giá và là bản anh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam đó là kỷ nguyên độc lập tự do. Với những với áng văn hào hùng, lời lẽ đanh thép, giản dị mà chặt chẽ trong “Tuyên ngôn độc lập” đã vang vọng, in sâu vào tâm khảm mỗi người dân Việt Nam yêu nước, thương nòi. Bản “Tuyên ngôn độc lập” mãi được coi là căn cứ pháp lý đầu tiên, quan trọng nhất của Hiến pháp năm 1946 và các bàn Hiến pháp sau này, là cơ sở, nền móng cho Đảng ta, nhân dân ta nhận thức đầy đủ về chủ quyền quốc gia, dân tộc; từ đó quyết tâm xây dựng, bảo vệ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

NGUYỄN XUÂN DIÊN

Phó Chánh văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND TP Hà Nội

Lượt xem: 437

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.